Rơi

16e99d63531d9bf319fd6255e28bffb5Cái tinh thần của mình đang rơi không trọng lượng. Rơi một cách chơi vơi và đang rơi xuống tới đáy. Là bởi sắp sửa cuối năm. Là bởi không hài lòng với con cái. Là bởi đủ các thứ hằm bà rằng không thể gọi thành tên đến lúc này?!

Chỉ biết rằng tinh thần mình đang rơi.

Mình đã cố cứu vớt nó bằng những cuốn sách. Trong vài ngày đã xong hai cuốn. Một cuốn là “Good Luck” (Bí mật của may mắn), cuốn thứ hai là “Living Foward” (Bản kế hoạch thay đổi định mệnh). Tất cả đều là bản dịch tiếng Việt. Đọc với niềm thiết tha sẽ cứu vớt để cho trạng thái rơi chững lại. Nhưng hình như vẫn không nổi!

Hay cứ để nó tiếp tục rơi nhỉ?! Rơi chạm tới đáy xem sao.

“Good Luck” như một câu chuyện cổ tích. Cổ tích dành cho cả người lớn và  trẻ em. Trong đó May mắn là một câu chuyện về cây cỏ bốn lá. Biểu tượng của may mắn mà các bạn trẻ vẫn săn tìm. Cỏ bốn lá đó tồn tại hay không tồn tại, hay vẫn chỉ có trong truyện cổ. Chỉ biết là “Good Luck” cho hay, có hai loại may mắn, một có tên gọi là may mắn từ trên trời rơi xuống – kiểu há miệng chờ sung; loại thứ hai là may mắn do chính bản thân chúng ta tạo ra.

May mắn đầu tiên chỉ khiến cho người có may mắn trở thành kẻ bất hạnh. Còn may mắn thứ hai làm cho con người trở nên mạnh mẽ, thành đạt và hạnh phúc. Cụ thể là, may mắn do chính con người tạo ra.

“Living Foward” là một Bản kế hoạch cuộc sống. Nghĩa là ta phải lập sẵn một kế hoạch. Kế hoạch đó phải được lập trước ba năm. Cụ thể, năm 2017 này ta đã phải chạy sẵn một kế hoạch tới năm 2020 rồi. Trong đó, cuốn sách kể rất hay, cách chúng ta nên dành ra đúng một ngày, không tin nhắn, không gia đình, ko bận tâm dù nhỏ nhất để viết ra một bản kế hoạch dài từ 8 -15 trang. Hi hi, thật khó, mình cũng chưa thử. Nhưng bản kế hoạch đó không đóng cứng, mà sẽ được thay đổi cho tới khi hoàn hảo theo ý người viết. Trong ba tháng đầu, người viết kế hoạch phải dành từ 5-10 phút mỗi sáng, đọc to lên để ghi nhớ thật kĩ, chỉnh sửa thật chuẩn và có động lực cho cuộc sống có kế hoạch sẵn phía trước.

Giờ mình hiểu tại sao mình rơi! Vì hóa ra mình chưa bao giờ mong may mắn rơi uỵch cái vào đầu, nhưng đã chưa tự tạo may mắn cho chính mình.  Và nhất là chưa thử đặt bút để có một Kế hoạch rõ ràng trong Cuộc sống. Thực ra, mình và gia đình có, nhưng chưa phải là một kế hoạch cụ thể, và nghiệm thu xem nó đã được thực hiện thế nào.

À tới đây mình lại nhớ tới Nguyễn Vĩnh Nguyên với “Những thành phố trôi dạt”. Trong đó Nguyên có kể về một lữ khách quyết định thử lên xe buýt và đi vô định tới những điểm đến trong thành phố. Kể cả bác xế xe cũng ngạc nhiên khi thấy lữ khách đó không mình sẽ đi đâu, sẽ điểm đến nào. Ban đầu thì lữ khách cũng thấy ngạc nhiên, thấy mắt sáng rỡ và có nhiều thay đổi. Nhưng cuối cùng lữ khách đó chợt nhận ra, bác xế, hay cũng chính là bản thân lữ khách lúc này. Bác xế trước khi là xế vì muốn thay đổi bản thân mình đã đổi sang nghề lái xe, nhưng hóa ra giờ cuộc sống của bác vẫn thế, tưởng được đi đây đi đó, nhưng mỗi chuyến đi vẫn cứ phải… lập trình. (Nguyễn Vĩnh Nguyên viết duyên lém, mình kể lại hơi vô duyên).

Và mình hem rơi, đã chững lại lúc này.

(Bonus thêm là sau khi nghe mình kể vài chi tiết thú vị, gây tò mò, cậu con zai đã vồ lấy cuốn sách và đọc cũng gần xong. Quan trọng không phải là đọc, mà là lĩnh hội, là thay đổi).

 

Advertisements

Đã sai, thì sửa

IMG_7348

Minh họa vẽ lại từ trong cuốn sách. H.T (chép)

Cuốn sách mỏng lắm, chừng hai trăm trang. “Mẹ cáu giận, con hư hỏng”, mới cái tít thôi đã khiến đủ cho người đọc sách giật mình. Ông tác giả người Nhật – Fusaichi Yamazaki sinh năm 1926, cuốn sách xuất bản ở Nhật năm 1999, vừa mới chuyển ngữ tại Việt Nam năm 2016, nghĩa là tác giả tròn 90 tuổi. Mình vừa khép lại cuốn sách, nguyên ba chương cuối để cho các bà mẹ thực hành. Cách thực hiện là giữ lại cơn giận, ném nó vào không gian đâu đó, đừng trút lên con trẻ. Thật ra mới đọc những chương đầu, mình đã bắt đầu thực hiện với hai bạn nhỏ nhà mình, lại kì thay, mình vốn là người nóng tính, khó thay đổi, vậy mà đã thay đổi được 7-8 phần.

Mẹ nào cũng yêu con, nhưng có hai cách. Hoặc là cho chúng ROI, hoặc tặng chúng KẸO. Có những bà mẹ vừa chọn cả roi lẫn kẹo, tỉ lệ pha trộn thế nào cũng tùy liều lượng của chính bà mẹ với các con mình. Tác giả Fusaichi chỉ chọn KẸO. Ờ, mà kẹo không thì ngọt ngào quá còn gì.

Nhưng xem chừng mâu thuẫn, mẹ luôn luôn cáu giận thế, con lại đang hư, làm sao mà ngọt ngào, làm sao mà nhẹ nhàng và chọn KẸO để cho con được nhỉ?! Vậy mà Fusaichi thuyết phục rất tài.

Kể từ đầu cho tới cuối thì khá dài, và khá lan man. Với những bà mẹ nào mà vẫn còn cáu giận hãy nên thử lắng lại và suy nghĩ những điều này xem nhé:

  • Hình như những cơn cáu giận với con là do chúng làm đều không thuận mắt mình, ưng ý mình.
  • Nếu như chúng ngoan ngoãn, điểm số tốt, rõ ràng mẹ sẽ tươi cười, sẽ cho rằng những đứa con của mình hoàn hảo.

Điều này hoàn toàn sai, bọn trẻ có lúc điểm tốt, và nhiều khi điểm xấu. Lũ trẻ nghe theo cha mẹ là bởi chúng sợ sệt, chúng lo lắng những cơn giận sẽ xảy đến bất cứ lúc nào thôi. Và nếu như những cơn giận đó thật dày, thật nhiều và toàn những đay nghiến, thì việc đứa trẻ đó trở nên cô độc, khi đủ trưởng thành chúng nghĩ tới… tự sát – là một chuyện ĐƯƠNG NHIÊN.

Thú thực nhé, đọc đến đâu, mình toát mồ hôi hột tới đó. Mình rất yêu con mà, sao lại có thể để chỉ nhiều cơn bực bội, cáu gắt, sẽ khiến chúng trở nên ngày một ương bướng, khó bảo.

Fusaichi nói, hãy khen con, hãy luôn là một động lực tốt bên con, đừng tưởng vạch ra cho chúng kế hoạch, bắt chúng đi theo thật bài bản. Sai rồi, hãy để chúng tự bước, tự lập, bằng chính khả năng của chúng. Và nếu chúng có vấp ngã, thì chính chúng sẽ đứng lên.

Tác giả “Mẹ cáu giận, con hư hỏng” chỉ ra nhiều điều, hiển nhiên là chúng ta thấy mình làm được, nhưng hóa ra trong thực tế chưa thử thực hiện lần nào. Mình chỉ dám trích nguyên một phần của trang 176, Fusaichi viết, thấm đấy, ngấm đấy nếu còn giận con thì càng phải đọc kĩ:

Trong thực tế cuộc sống thường sẽ có hai tuýp người:

Một tuýp người luôn tìm kiếm sự hoàn hảo, lúc nào cũng muốn thay đổi bản thân, do đó họ thường cố gắng trong vô vọng, đắm chìm trong nỗi đau khổ, dằn vặt và không bao giờ cảm thấy đủ;

Tuýp người còn lại thì luôn tự khẳng định bản thân 100%, luôn cảm thấy hài lòng với cuộc sống hiện tại của mình. Họ thường chuyên tâm vào nghề nghiệp, sẵn sàng kiên trì gian khổ để hướng tới mục tiêu hoàn thành một điều gì đó để lại cho đời.

Sự gian khổ của tuýp người thứ nhất hoàn toàn không có ý nghĩa. Ngược lại, sự hi sinh gian khổ của tuýp người thứ hai lại góp phần làm cho cuộc sống phong phú hơn.

Tuýp người 1 – sẽ là một bà mẹ cáu giận.

Tuýp người 2 – sẽ là một bà mẹ biết cho con KẸO trong suốt cuộc đời.

Đơn giản vậy thôi.

(Cụ thể, mình cũng đang sai, và đang biết tự sửa lại mình).

 

 

 

Nước mắt

img732.u335.d20161021.t131220.739633.jpg

Bìa sách

Quả thực là mình không biết buồn hay vui khi đọc “Chuyện ngõ nghèo” của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh. Nhớ cách đây 6 năm, ông đã làm mình khóc với “Đội gạo lên chùa”. Nay không rỏ một giọt nước mắt, nhưng rùng mình, giật mình, ám ảnh khi gặp lại ông.

Nguyễn Xuân Khánh được mọi người biết đến và tôn vinh với “Hồ Quý Ly”, “Mẫu thượng ngàn”, tiểu thuyết lịch sử. Mình thích ông ở những tiểu thuyết rất đời, “Đội gạo lên chùa”. Còn nay là tiểu thuyết triết luận thì đúng hơn “Chuyện ngõ nghèo”.

Bìa đẹp, rất đẹp với minh họa của họa sĩ Đào Hải Phong. Chữ in nổi chắc là chữ viết tay của chính họa sĩ.

Nguyễn Xuân Khánh kể về chú Ỉ nhân vật chính có tên Lợn Bò. Chú là một con vật lai giữa Lợn và Bò. Vẫn gọi chú là Lợn bởi chú được nuôi để lấy thịt, chú có vóc dáng, cách ăn và vẫn xực cám là chính. Chú chỉ là Bò khi nhìn vào mắt đẹp như một chú Bò Ấn Độ và những sợi lông thưa dài, ánh lên một màu vàng.

Ông kể về Lợn mà rất duyên. Lợn để giúp ông thoát nghèo, nhưng thoát đâu chưa thấy, cái lạnh nhất, cái đáng sợ nhất là khi ông tả về việc con Ỉ lai Bò của ông nó nhai Đốt (nhà văn) cứ rau ráu, và nhờ nhai xương, chỉ chừa lại có bộ râu mà khiến cho con Lợn tăng trọng rất nhanh. Phỉnh phờ rất giỏi và lớn lên rất tài.

Nguyễn Xuân Khánh tả thêm về một nhà văn viết triết luận Lợn, tập hợp trong đó những câu chuyện về lợn đầy quái đản. Ông nhà văn có tên là Tám. Để cuối cùng  Tám đã chết vì chính nghĩa, cứu người xả thân quên mình.

Đọc Nguyễn Xuân Khánh thực sự rất sướng. Ông giả bộ là câu chuyện chú Ỉn này là một nhật kí của Lợn. Nhưng thật ra là nhật kí của chính ông. Ông trong truyện tên là Hoàng. Nhân vật Hoàng khi làm tình với vợ thì đuội, trong khi chăm Lợn thì cứ như đang ở… trên mây (!)

Hoàng gặp Hồ Ly để rồi chính Hồ Ly là nhân vật Mi người đọc cũng dễ dàng đoán ra, nhưng Nguyễn Xuân Khánh kể rất khéo, rất tài, liêu trai, dễ đọc, nhưng khó kể lại.

Năm 1981 – 1982, cả nước nghèo, Nguyễn Xuân Khánh kể chuyện nuôi lợn… thì quá ư là đúng rồi, nhưng trong đó có một phần ba là viễn tưởng. Gọi là viễn tưởng mà không phải viễn tưởng. Đó là một xã hội thực văn minh, thực cao đẹp, nhưng tịnh không có nỗi buồn, và đặc biệt là con người không thể rỏ… NƯỚC MẮT.

Ở xã hội đó Nguyễn Xuân Khánh đặt tên là Cực Thiên Thai, từa tựa như Cõi Niết Bàn trong Phật hay Thiên Đường nơi Thiên chúa giáo. Hihi, nhưng Cực Thiên Thai con người hem có làm tình, họ chỉ có lai giống như lợn lai. Và để cuối cùng chúa tể của Cực Thiên Thai có cái tên đánh số là A1, chính là chú Ỉ  Lợn Bò của nhân vật chính Nguyễn Hoàng.

Thú vị này đến thú vị khác khi đọc Nguyễn Xuân Khánh. Với nhà văn, khi đó chưa đầy năm mươi, bút lực còn khỏe, ông viết “Chuyện ngõ nghèo” và được khen là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của ông. Quả không uổng khi chọn, và đọc.

Ở đất Thủ đô này, nhà nào đã kinh qua chuyện nuôi lợn, đọc lại “Chuyện ngõ nghèo” của Nguyễn Xuân Khánh quả thấy như sao chuyện gì ông cũng tường. Mình đọc và nhớ lại thời mẹ nuôi lợn. Ngày xưa chả hiểu sao, mẹ chỉ chọn nuôi lợn đen. Bà chăm chỉ vớt bèo, thời đó bà làm ở cách nhà những bảy cây số, đầy bèo. Bà mua rau muống, bà tích nước gạo, đồ thừa để nấu cám cho lợn ăn. Nhưng lần nào chú lợn đen của bà cứ thau tháu ba mươi cân là… đổ vật ra chết. Ngày đó, mình mới mười một mười hai, chưa hiểu nỗi đau, thương mẹ. Nhưng cũng thấy bà rất tội, cố vớt vát thuê người mổ lợn tháu đó rồi bày ra ngay ở KTT bán thịt cho những người dân khi đó vừa đói, vừa thèm… thịt lợn. (Thôi cũng đành ăn tạm).

Chuyện lợn chết, được Nguyễn Xuân Khánh đặc tả với nhân vật Lân. Nhiều bí ẩn và thú vị, sợ nhất là vớt lòng dưới cống đen ngòm, bà bán lòng lợn thì dùng hóa chất tẩy sạch rùi luộc thơm, rán giòn bán cho người ăn. Còn Lân thì đem nó tái chế thành… món ăn để nuôi lợn tiếp. Vừa đọc vừa kinh sợ.

Hi hi, để kể “Chuyện ngõ nghèo” thì còn nhiều nhiều chi tiết hay lém. Ai đó, muốn thưởng thì mời… mua, hoặc qua mình cho mượn.

Thế nhỉ?! 🙂

Người lạ (tiếp theo 20)

15685

Tiểu sử đầy đủ về Camus. Nguồn ảnh: Goodreads.

NGƯỜI LẠ

Albert Camus

Dựa theo bản dịch tiếng Anh từ tiếng Pháp của Stuart Gilbert (N.H.T chuyển ngữ (*)/Phần 2/Tiếp)

>> Phần trước

IV

LUÔN LUÔN thú vị, thậm chí cả trên bục của bị cáo, để nghe bản thân nói về mình. Và chắn chắn trong những bài phát biểu của luật sư bào chữa cho tôi và luật sư bên nguyên một lí tưởng tuyệt vời là nói về tôi; hơn nữa, trong thực tế, về cá nhân con người tôi hơn là về tội lỗi của tôi.

Thực sự cũng không có bất cứ sự khác biệt lớn lao nào lắm giữa hai bản luận tội. Luật sư biện hô giơ cánh tay của gã lên tận trời xanh và cam kết tội lỗi, nhưng với nhiều tình tiết giảm nhẹ. Ủy viên công tố có những cử chỉ tương tự; ông đồng ý rằng tôi phạm tội, nhưng phủ nhận những tình tiết giảm nhẹ.

Một điều về công đoạn này của phiên tòa có phần tẻ nhạt. Thường là, thú vị khi tôi là những gì họ đang nói tới, tôi đã cố gắng nói gì đó, về bản thân mình. Nhưng luật sư của tôi đã khuyên tôi đừng. “Cậu không nên làm vậy trong trường hợp của cậu dù tốt để nói”, gã đã cảnh báo tôi. Thực tế, dường như có một thông đồng để loại tôi khỏi mọi tiến trình tòa án; Tôi đã không có gì phải nói và định mệnh của tôi đã bị quyết định ngoài tầm với của tôi rồi.

Hoàn toàn là một sự cố gắng nhiều lần đối với tôi, cố kiềm chế việc để sự việc tất cả đều ngắn gọn, và nói: “Nhưng, thật đốn mạt, ai là người được xử trong phiên tòa này, tôi muốn được biết? Đó là một vấn đề nghiêm trọng đối với một con người, bị kết tội giết người. Và tôi có vài điều thực sự quan trọng để nói với mọi người”.

Tuy nhiên, ý nghĩ trong một giây, tôi nhận ra tôi chẳng có gì để nói. Trong bất cứ trường hợp nào, tôi phải thú nhận nghe bản thân nói về mất mát thú vị hơn nhiều. Đặc biệt là, bài phát biểu của Ủy viên công tố, bắt đầu làm tôi buồn tẻ trước khi ông đi được nửa hành trình. Có những điều thực sự chỉ gây được sự chú ý của tôi là những quãng nghỉ tình cờ, thái độ của ông, và một vài chỉ trích kĩ lưỡng của ông – nhưng nhưng thứ này là những mảng miếng vá loang lổ cô độc.

Ông ta đang hướng tới điều gì, tôi tóm lược, là chỉ ra tội lỗi của tôi, đã suy tính trước. Tôi nhớ lời nói của ông khoảnh khắc đó, “Tôi có thể chứng minh điều này, những quí ông đáng kính của bồi thẩm đoàn, thấu đáo đến tận cùng. Thứ nhất, các ông đã có những cứ liệu về việc phạm tội; mọi thứ đã rõ ràng như ánh sáng của ban ngày. Và tiếp đến các ông đã có những gì mà có lẽ tôi gọi là khía cạnh bóng đêm của vụ án này, kết quả mờ ám của một tội phạm tâm thần”.

Ông ta bắt đầu tóm lược những cứ liệu, từ cái chết của mẹ tôi. Ông ta nhấn mạnh điểm không có trái tim của tôi, không biết tới tuổi của mẹ, chuyến đi tới bể bơi của tôi nơi tôi đã gặp Marie, buổi biểu diễn tại rạp chiếu phim nơi có bộ phim của Fernandel đang trình chiếu, và cuối cùng sự trở lại của tôi với Marie tại phòng tôi. Đầu tiên, tôi đã hoàn toàn không thể theo được những điểm mốc của ông, khi ông tiếp tục nhấn mạnh về “quí cô của bị cáo” bởi vì đối với tôi cô ấy chỉ là thể là “Marie”. Sau đấy, ông nói về chủ đề của Raymond. Với tôi dường như cái cách ông lừa mị thực tế chỉ ra một sự khôn ngoan chắc chắn. Ông nói tất thảy đều nghe có vẻ hoàn toàn hợp lí. Tôi đã viết một bức thư, toàn bộ về Raymond để mời gọi bạn gái của anh ta tới phòng và chỉ cho thấy cô nàng đã ứng xử-tồi bởi một người đàn ông “tiếng tăm chả minh bạch chút nào”. Sau đó, trên bãi biển, tôi nhớ lại vụ đánh lộn với những kẻ thù của Raymond, kết cục Raymond đã bị thương. Tôi hỏi anh ta về khẩu súng ngắn ổ xoay và tôi tự trở lại với ý định sẽ sử dụng nó. Tiếp đến tôi bắn tên A rập. Sau phát súng đầu tiên tôi ngừng lại. Sau thì, “để chắc chắn hoàn thành được tốt công việc”, tôi đã nhả bốn phát đạn liên tục, không-chủ đích, và thật lạnh lùng, vào nạn nhân của tôi.

“Đó là chứng cớ của tôi”, ông nói. “Tôi đã mô tả với các ngài hàng chuỗi sự kiện dẫn người đàn ông này bắn vào xác chết, cảnh báo toàn tập về những gì cậu ta đang làm. Tôi nhấn mạnh điểm này. Chúng tôi không suy xét tới một hành động của giết người mà bị bỏ tù vì hành động bốc đồng đột ngột có lẽ sẽ được xem xét như một tình tiết giảm nhẹ. Tôi nhắc các ngài ghi nhớ, những quí ông của bồi thẩm đoàn, rằng tù nhân này là một người đàn ông có học. Các ngài đã dõi theo cách cậu ta đã trả lời các câu hỏi của tôi; cậu ta thông minh và cậu ta biết được giá trị của ngôn từ. Và khi tôi nhắc lại là hoàn toàn khó có khả năng để giả bộ rằng, khi cậu ta đã khẳng định việc phạm tội, cậu ta không ý thức về những gì cậu ta đang làm”.

Tôi nhận ra ông xoáy mạnh vào “trí thông minh” của tôi. Điều này khiến tôi thắc mắc tại sao lại được coi như là một điểm tốt đối với một con người bình thường nhưng vẫn vậy thôi lại trở thành chống đối một người đàn ông bị kết án, bởi đó là một bằng cớ bao trùm về tội lỗi của anh ta. Trong lúc nghĩ cho ra vấn đề này, tôi bỏ lỡ những gì ông nói tiếp theo, cho tới khi tôi nghe thấy ông cảm thán đầy căm phẫn: “Và liệu cậu ta có thốt ra một từ nào hối lỗi cho hành động tội lỗi bỉ ổi nhất của cậu ta? Không một lời nào, thưa các quí ngài. Không một lần trong mọi tiến trình của tòa án người đàn ông này ít nhất có một lần chỉ ra có ăn năn?”.

Quay hẳn về phía vành móng ngựa, ông chỉ ngón tay vào tôi, và tiếp tục giọng căng thẳng như vậy. Tôi thực sự không thể hiểu tại sao ông lại nhay đi nhay lại điểm này quá nhiều. Tất nhiên, tôi có hiểu rằng ông đúng; tôi đã không cảm giác hối lỗi nhiều lắm cho những gì tôi đã làm. Song, đối với suy nghĩ của riêng tôi ông đã làm quá nó lên, và tôi muốn có một cơ hội giải thích với ông, trong tư cách hầu như tình cảm nhất, hoàn toàn thân thiện, rằng tôi chưa từng bao giờ thực sự phải hối lỗi điều gì trong tất cả cuộc đời tôi. Tôi luôn luôn ở xa đến mức mê mải trong khoảnh khắc hiện tại, hoặc tương lai tức thời, để nghĩ lại. Dĩ nhiên, ở vị trí tôi đã bị đẩy tới, không có một câu hỏi nào bằng giọng của tôi đến một ai với âm lượng ấy. Tôi đã không có quyền chỉ ra bất cứ cảm nhận thân tình hay sở hữu bất cứ ý định tốt đẹp nào. Và tôi cố để theo dõi điều gì tiếp theo, khi Ủy viên công tố đang băn khoăn cái mà ông gọi là “linh hồn” của tôi.

Ông nói ông đã nghiên cứu nó rất kĩ – và đã tìm ra một khoảng trống, “chả có ý nghĩa gì cả, thưa quí ngài trong bồi thẩm đoàn”. Thực là, ông nói, tôi không có linh hồn, chẳng có một loại người nào như tôi, không có một ai có những tính cách đạo đức như thế mà những người đàn ông bình thường sở hữu một được vị trí trong tâm trí tôi. “Không nghi ngờ gì nữa”, ông kết luận, “chúng ta không nên làm cậu ta xấu hổ vì điều này. Chúng ta không thể đổ lỗi cho một người đàn ông bởi thiếu cái gọi là chưa từng có trong khả năng của cậu ấy để đòi hỏi. Nhưng trong một phiên tòa tội phạm với lí tưởng của tha thứ tất thảy, cần phải có một vị trí đạt công lí hoàn hảo cao quí hơn, cứng rắn hơn. Đặc biệt là sự thiếu thốn mọi bản năng tử tế kiểu như người đàn ông này trước các ngài, một sự đe dọa đối với xã hội”. Ông vượt tới bàn cả đạo đức của tôi với mẹ tôi, nhắc lại rằng ông đã nói trong cả phiên tòa nghe thấy. Nhưng ông nói  với mức độ phạm tội của tôi khủng khiếp hơn nhiều  – và cả thời gian thực hiện, thật ra, tôi đã mất đầu mối và chỉ đủ tính táo để chống chọi với cái nóng ngày càng tăng lên rõ rệt.

Mỗi khoảnh khắc khi Ủy viên công bố ngừng lại, và sau một khoảng im lặng ngắn, ông nói trong một giọng bật, thấp: “Đây là phiên tòa tương tự, thưa các quí ông, sẽ được gọi vào xử ngày mai cũng là kiểu tội phạm ghê tởm nhất, vụ con trai giết cha”. Đối với tâm trí của ông, loại tội phạm kiểu này không thể nào tưởng tượng nổi. Nhưng, ông mạo muội hi vọng, công lí sẽ phải được thực thi chứ không thể bỏ qua. Và song, ông nhấn mạnh nói, sự khủng khiếp thậm chí kiểu tội phạm con giết cha hay mẹ làm ông nhợt nhạt bên cạnh đó căm thù đem lại sự nhẫn tâm trong tôi.

“Người đàn ông này,  là người phạm tội đạo đức đối với cái chết của mẹ cậu ta, không còn phù hợp chút nào để có được một chỗ đứng trong cộng đồng hơn người đàn ông kia đã giết cha để bảo tồn bản thân. Và, thực ra, hành động tội lỗi của người này có ảnh hưởng tới người kia; trước tiên trong hai loại tội phạm này, người đàn ông đang đứng trên vành móng ngựa đây, được xử trước, và nếu có thể tôi nói mạnh, vụ án thứ hai cũng tương tự. Vâng, các ngài yêu quí, tôi đảm bảo” – lúc này giọng ông dâng lên một mức nữa – “các ngài sẽ phải thấy là tôi đã không xử quá trường hợp này nhằm chống lại bị cáo khi tôi nói rằng, cậu ta phạm cũng tội giết người chính tại phiên tòa này xử vào ngày mai. Và tôi mong các ngài ra một lời phán quyết chính xác”.

Ủy viên công tố dừng lại một lần nữa, để lau mồ hôi khỏi gương mặt ông. Sau đó ông giải thích, nhiệm vụ của ông là một nhiệm vụ đau đớn, nhưng ông sẽ vẫn làm nó mà không lưỡng lự. “Người đàn ông này, tôi nhắc lại, không có một chỗ đứng trong một cộng đồng với những nguyên tắc cơ bản, cậu ta đã lăng nhục mà không ăn năn gì. Không, người không có trái tim là cậu ta, không xứng đáng được nhận hạnh phúc. Tôi yêu cầu các ngài thực thi luật pháp mà không đánh tráo khái niệm; và tôi yêu cầu xử ngay không e sợ. Trong một thời gian dài theo đuổi nghề nghiệp của mình, ở đây tôi thường có trách nhiệm yêu cầu xử tử hình, chưa từng khi nào tôi cảm thấy trách nhiệm đớn đau có chút nặng nề trong tâm trí tôi như vụ án này. Để đòi hỏi một lời phán quyết phạm tội mà không có bất cứ tình tiết giảm nhẹ nào, tôi theo đuổi nó không chỉ thấy rõ sự tỉnh táo của tôi và một nghĩa vụ bất khả xâm phạm, nhưng cũng là một trong những sự phẫn nộ đúng đắn và tự nhiên tôi cảm không lóe lên chút gì cảm nhận của loài người”.

Khi Ủy viên Công tố ngồi xuống có một khoảng lặng dài nhất. Cá nhân tôi hoàn toàn đã vượt qua bởi cái nóng và điều vui thú mà tôi đã và đang nghe được. Quan tòa phán xử đã ho ngắn, và hỏi tôi với một giọng thấp, tôi còn điều gì để nói. Tôi đứng dậy, và tôi ở trong tâm trạng tôi muốn nói, tôi nói điều đầu tiên xuất hiện qua trí não tôi: Tôi không có ý định giết người A rập. Quan tòa đáp lại, điều này có thể sẽ được tòa án xem xét. Trong khi vui khi nghe điều đó, trước khi luật sư biện hộ của tôi nói với tòa, những động lực nào khiến tôi phạm tội. Hơn nữa, gã phải thú nhận, gã hoàn toàn không hiểu được nền tảng sự bảo vệ bạn của tôi.

Tôi đã cố gắng giải thích đó là bởi vì mặt trời, nhưng tôi đã nói quá nhanh và những lời của tôi đã chạy xô vào nhau. Tôi chỉ còn cố tỉnh táo để những âm thanh không quá vô nghĩa, và, trong thực tế, tôi nghe thấy mọi người đang xì xào.

Luật sư của tôi nhún vai. Sau đó gã trực tiếp biện hộ trước tòa, khi đến lượt gã. Nhưng tất cả gã làm là chỉ ra đã muộn giờ và đề nghị được hoãn phiên tòa cho tới buổi chiều hôm sau. Với điều này quan tòa đồng ý.

Khi tôi được mang trở lại tòa ngày hôm sau, những chiếc quạt điện vẫn tiếp tục quay vòng tít trong không khí nặng nề và những người đàn ông của bồi thẩm đoàn đang miệt mài những chiếc quạt tay nhỏ bé sặc sỡ trong một nhịp điệu chắc chắn. Lời biện hộ của luật sư dường như đối với tôi dài vô tận. Tại một khoảnh khắc, tuy nhiên, tôi đã lãng tai mình ra; là lúc tôi nghe thấy luật sư nói: “Đây là sự thật tôi đã giết người”. Gã tiếp tục với một sự căng thẳng đều đều, nói “tôi” khi gã đề cập tới tôi. Điều này dường như quá kì lạ để tôi quì trước cảnh sát bên phải tôi và yêu cầu ông cho tôi giải thích. Ông bảo tôi câm miệng; sau đó, sau khoảnh khắc ấy, thì thầm: “Họ đã làm tất cả điều đó”. Dường như đối với tôi đó là ý tưởng nằm phía sau, nó đẩy xa tôi ra khỏi hẳn phiên tòa, đẩy tôi lạc khỏi quĩ đạo. Để nói rằng, luật sư đã thay thế cho bản thân tôi. Dầu sao, đó là cả một vấn đề nặng nề; tôi thực sự cảm thấy những thế giới đã xa rời khỏi phiên tòa này và “những tiến trình” tẻ nhạt của nó.

Luật sư của tôi, dầu trong trường hợp nào, đẩy tôi vừa nhu nhược vừa đáng nhạo.  Gã ào ào lời biện hộ đầy khiêu khích của gã, và sau đó, gã cũng bắt đầu nói về linh hồn tôi. Nhưng tôi có một ấn tượng gã ít tài năng hơn nhiều so với Ủy viên Công tố.

“Tôi cũng”, gã nói, “có một nghiên cứu chặt chẽ về tâm hồn của người đàn ông này; nhưng, không giống với bạn học của tôi về khởi tố khởi kiện, tôi đã tìm được một vài điều ở đây. Thực sự, tôi có thể nói rằng tôi đã đọc được tâm trí của thân chủ tôi trong một cuốn sách mở”. Những gì gã đọc được về tôi ở đó là tôi là một chàng trai trẻ tuyệt vời, một công chức tận tâm, chắc chắn, người có thể làm những điều tốt nhất cho ông chủ của mình; rằng tôi quảng giao với mọi người và cảm thông với những rắc rối của người khác. Theo gã, tôi là một người con trai có trách nhiệm, người đã giúp đỡ mẹ của mình trong một thời gian mà tôi có thể. Sau suy xét căng thẳng tôi đã đưa đến một kết luận, bước về nhà, mẹ già đã hài lòng với những gì tôi chuẩn bị, bà cấm tôi đã cung cấp thêm cho bà. “Tôi là một kinh ngạc, thưa quí ngài bồi thẩm đoàn”, gã nói thêm, “bằng thái độ của những người bạn học của tôi có nói tới trong Viện Dưỡng lão. Chắc chắc là nếu cần chứng minh điều tuyệt hảo của những viện giống như thế này, chúng tôi chỉ cần nhớ rằng họ đang được khuyến khích và hỗ trợ tài chính bởi bộ phận của chính phủ”. Tôi nhận thấy rằng gã đã không đề cập gì tới đám tang, và điều này dường như đối với tôi là một sự loại trừ nghiêm trọng. Nhưng, với những gì gã nói một mạch, những ngày và những giờ không có hồi kết đều đã và đang bàn về “tâm hồn” của tôi, và phần còn lại là, tôi nhận ra tâm trí của tôi đã trở nên lờ mờ; mọi thứ đang dần dần biến thành một sự mơ hồ, sương mù, xám xịt.

Chỉ có một tình tiết lóe lên; đến tận cùng, trong khi luật sư bảo vệ tôi đang rông dài, tôi nghe thấy tiếng kèn thiếc của một người bán kem dạo trên phố, một tiếng động nhỏ ré lên cắt ngang qua dòng của những ngôn từ. Và sau đó một sự vội vã của những kí ức đã quan tâm trí tôi – những kí ức của một cuộc đời đã từng là của tôi không lâu nữa đã và đang một lần cung cấp cho tôi những vui thú bình dị nhất, chắc chắn nhất: Những mùi vị ấm áp của mùa hè, những con phố yêu thích của tôi, bầu trời vào đêm, những chiếc váy của Marie và tiếng cười to của nàng. Chẳng còn khát vọng thành công vào những gì đang xảy ra ở đây, dường như đã khiến mọi thứ dâng lên cổ tôi, tôi cảm giác giống như đang nôn, và tôi chỉ có một ý tưởng: Để mọi thứ qua đi, để quay lại buồng giam, và ngủ… rồi ngủ.

Mơ hồ tôi nghe luật sư biện hộ cho tôi đưa ra những chứng cứ cuối cùng.

“Những quí ngài của bồi thẩm đoàn, chắc chắn các ông sẽ không buộc một thanh niên chăm chỉ làm việc, tử tế phải chết chứ, bởi vì một khoảnh khắc thảm họa cậu ấy đã mất kiểm soát? Cậu ấy không bị phạt một cách đáng kể bởi hối lỗi cả đời cho những mất mát mà cậu ấy phải chịu ư? Tôi tin tưởng chờ đợi phán quyết của các ngài, chỉ phán quyết có thể – vụ giết người với nhiều tình tiết giảm nhẹ”.

Phiên tòa tạm nghỉ, luật sư ngồi xuống nhìn trông khá kiệt sức. Một trong những đồng nghiệp của gã đến gặp và bắt tay gã. “Cậu đã có một buổi trình bày đáng nể, cậu bạn già à?”, tôi nghe thấy một trong bọn họ nói vậy. Một luật sư khác gọi tôi tới đối chứng: “Tốt, phải không nào”. Tôi đồng ý nhưng không thật sự chân thành; tôi đã quá mệt mỏi để phán xét nó là “tốt” hay không nữa rồi.

Trong khi ngày đã qua và sức nóng đã trở nên bớt hơn rồi. Bởi vài tiếng động mơ hồ vọng tới tôi, tôi biết mát mẻ của đêm đã bắt đầu. Tất cả chúng tôi ngồi xuống, chờ đợi. Và điều tất cả chúng tôi đang chờ đợi thực sự không liên quan đến ai khác trừ tôi. Tôi nhìn quanh phòng xử án. Tôi gặp những ánh mắt của các phóng viên màu xám và ả người máy. Điều này nhắc nhở tôi rằng không chỉ một lần trong suốt quá trình nghe xử tôi cố gắng bắt được ánh nhìn của Marie. Nó không phải là tôi đã quên nàng; chỉ vì tôi bị bao vây quá. Tôi nhìn thấy nàng lúc này, ngồi giữa Céleste và Raymond. Nàng vẫy tay nhẹ về phía tôi, dường như nói, “Gần kết thúc rồi!”. Nàng đang mỉm cười, nhưng tôi có thể nói rằng nàng đang lo lắng ghê gớm. Nhưng trái tim tôi dường như hóa đá, và tôi thậm chí không thể mỉm cười đáp lại nàng.

Các quan tòa, bồi thẩm trở lại chỗ ngồi. Ai đó đọc to cho bồi thẩm đoàn, rất nhanh, một chuỗi câu hỏi. Tôi bắt được từ vựng lúc được lúc không. “Cố tình phạm tội chống đối lại luật pháp… Khiêu khích… Những tình tiết giảm nhẹ”. Bồi thẩm đoàn ra ngoài, và tôi được dẫn vào một phòng nhỏ nơi tôi đã chờ đợi. Luật sư của tôi đến gặp tôi; gã nói rất rất nhiều và chỉ rõ thân tình lịch thiệp và tin tưởng hơn trước đây nhiều. Gã trấn an tôi, mọi thứ đang tốt đẹp và tôi sẽ được thả sau vài năm ở tù hoặc thuyên chuyển. Tôi hỏi gã những cơ hội kết án tử hình liệu đã miễn nhiễm. Gã đáp không có chuyện kết án tử hình. Gã không nêu được bất cứ quan điểm luật nào, trong khi điều này phụ thuộc vào quyết định của bồi thẩm đoàn. Và thật khó để có một sự phán quyết đưa ra từ những nền tảng kĩ thuật. Tôi nhìn thấy quan điểm của gã, và đồng ý nhìn vấn đề một cách thiếu đam mê, tôi chia sẻ góc nhìn của gã. Hoặc không sẽ chẳng đi được tới quyết định cuối cùng. “Trong mọi tình huống”, luật sư nói, “cậu có thể bộc lộ bình thường. Nhưng tôi được rõ lời phán quyết có thể chấp nhận được.

Chúng tôi chờ thêm một chốc, khoảng bốn mươi nhăm phút của một giờ, tôi nên nói vậy. Sau đó một tiếng chuông rung. Luật sư rời khỏi chỗ tôi, nói:

“Người đại diện của bồi thẩm đoàn sẽ đọc to những câu trả lời. Cậu sẽ được gọi ra sau khi có lời phán quyết”.

Vài cánh cửa đóng sầm. Tôi nghe mọi người vội vã bước xuống cầu thang, nhưng không thể nói rõ họ ở gần hay xa. Sau đó tôi nghe một giọng nói xa trầm trong phòng xử án.

Khi tiếng chuông reo lần nữa và tôi bước trở lại vành móng ngựa, không khí im lặng của tòa án quấn chặt quanh tôi, và với sự im lặng đến một tinh thần kì lạ khi tôi nhận ra rằng, đây là lần đầu tiên cậu phóng viên trẻ đã nhắm mắt quay đi. Tôi đã không nhìn hướng tới Marie. Thực tế, tôi không có thời gian để nhìn, khi phán xử đã bắt đầu tuyên bố bằng mô tả lẫn lộn, để kết cục là, “nhân danh nhân dân Pháp” tôi sẽ bị chặt đầu trước công chúng.

Sau đó, dường như đối với tôi, tôi có thể hiểu được ánh nhìn từ những gương mặt của họ lúc này; nó hầu hết là một trong những cảm thông kính trọng. Các cảnh sát cũng đỡ tôi rất dịu dàng. Luật sư đặt tay gã lên cổ tay tôi. Tôi đã dừng lại không nghĩ ngợi gì cả. Tôi nghe thấy giọng của quan tòa hỏi tôi có điều gì nữa để nói không. Sau khi nghĩ một lát, tôi trả lời, “không”. Sau đó, cảnh sát dẫn tôi đi.

(Hết chương IV, phần II)

Còn tiếp

(*) Hóa ra Meursault không hề bị tâm thần. Có tâm thần chăng là do cái nhìn của những con người bình thường, những con người săm soi dự tòa, nhất quyết phải nhìn ra, đã giết người thì phải làm sao đó. Camus cứ tà tà kể. Dưới mắt nhìn của một Camus, cậu thanh niên kia không còn khả năng để chống lại những gì phiên tòa đã sắp đặt với chàng. Camus không lên án ai, nhưng mọi thứ nó cứ hiển hiện ra thật rõ. Sao nhỉ, một bị cáo không quan tâm tới định đoạt số phận của chính mình tại phiên tòa quan trọng, mà lại quan tâm tới âm thanh, tiếng động của cuộc sống vẳng tới từ bên ngoài. Ờ mà thanh niên đó, yêu cuộc sống tới vô ngần, nhưng không thể nào nói nổi một câu để biện minh cho chính mình.

Còn một chương nữa thôi là sẽ khép lại số phận của một con người, một nhân vật chính mà Camus đã viết từ năm 1942. Điều đáng nói ở đây, sau đó 4 năm, ở nước Mỹ xa xôi, Gilbert cũng dường như quá thấu hiểu và dịch lại cho người đọc hiểu được một Camus nhân sinh, cụ tỉ. Năm 1989 có thêm Ward, rồi năm 2013 cũng còn một bản dịch mới của “L’Estranger” của Camus. Sau khi có mặt trên kệ sách 15 năm sau, “Người lạ” của Camus được trao giải Nobel.

15 năm đủ để vinh danh một tác phẩm, nhưng có lẽ mất nhiều năm sau để độc giả hiểu được những dư vị của một tác phẩm “ngọt ngào”.

Một bác nhà văn đáng kính có cảnh báo mình rằng: Camus cũng như Shakespears, chẳng ai quan tâm là ai dịch, dịch thế nào nữa rồi. Nhưng dầu sao, để mang đến một Camus đúng nghĩa (hi vọng thế), thật khó làm sao. Và mình đang thật cố gắng. Cảm ơn nhiều sự động viên, và nhiều lời chỉ giáo.

 

 

Người lạ (tiếp theo 19)

camus-fumando-1024x706

Albert Camus. Nguồn ảnh: Internet.

NGƯỜI LẠ

Albert Camus

Dựa theo bản dịch tiếng Anh từ tiếng Pháp của Stuart Gilbert (N.H.T chuyển ngữ (*)/Phần 2/Tiếp)

>> Phần trước

 

Phần II

III

TỔNG THỂ  thì tôi không thể nói rằng những tháng này qua đi chậm rãi; mùa hè khác đang trên đường tới nơi rồi trước khi tôi nhận ra mùa hè đầu tiên đã qua. Và tôi biết rằng với những ngày đầu tiên thật sự nóng, một điều gì mới đang tích trữ trong tôi. Trường hợp của tôi đã đi tới những phần cuối của phiên tòa đại hình, những thủ tục này sẽ có hạn kết thúc vào thời gian nào đó trong tháng Sáu.

Cái ngày phiên tòa luận tội của tôi bắt đầu là một trong những ngày nắng trời rực rỡ. Luật sư của tôi thông báo với tôi phiên tòa chỉ mất hai hoặc ba ngày. “Đó là tôi nghe thấy thế”, luật sư nói, “phiên tòa sẽ xử trường hợp của cậu càng nhanh càng tốt, bởi đây không phải là một trường hợp quan trọng nhất trong Danh sách các vụ án. Ngay sau đây là trường hợp kẻ giết cha, vụ này mới mất nhiều thời gian”.

Họ đến gặp tôi lúc bảy rưỡi sáng và tôi bị áp giải tới tòa án pháp luật trong một chiếc xe bán tải của nhà tù. Hai cảnh sát nam dẫn tôi vào trong một phòng nhỏ ở đó ngửi ra mùi của bóng tối. Chúng tôi ngồi gần một cửa đi mà những âm thanh giọng nói, tiếng quát, kéo ghế trên sàn có thể lọt ra ngoài; một tiếng huyên náo mơ hồ đánh thức tôi về một trong những “xã hội” của thị trấn bé nhỏ này lúc buổi hòa nhạc đã qua đi, sảnh phòng đã sạch bong để dành cho nhảy nhót.

Một trong hai cảnh sát áp giải của tôi nói với tôi, các chánh án chưa tới, họ cho tôi một điếu thuốc lá, nhưng tôi từ chối. Sau một lát cảnh sát hỏi tôi, có cảm giác lo lắng không. Tôi đáp, “không” và triển vọng là những nhân chứng trong phiên tòa dàn dựng khiến tôi thích thú hơn; Tôi chưa bao giờ có dịp dự một phiên như vậy.

“Có lẽ”, cảnh sát khác nói, “Nhưng chỉ một hay hai giờ thôi là thấy đủ khác”.

Sau một lát một chiếc chuông điện nhỏ rung lên trong phòng. Họ tháo còng tay của tôi, mở cửa, và dẫn tôi lên bục của tù nhân.

Có một đám đông lớn trong phòng xử án. Thông qua những tấm mành mành thả xuống, ánh sáng lọt qua những kẽ hở, và không khí đã vô cùng ngột ngạt. Những chiếc cửa sổ vẫn đóng chặt. Tôi ngồi xuống, và nhân viên cảnh sát đứng mỗi bên cạnh ghế của tôi.

Sau đó tôi nhận ra có một hàng những gương mặt đối diện tôi. Những con người này đang nhìn chằm chằm khó nhọc vào tôi, và tôi đoán họ là bồi thẩm đoàn. Nhưng tôi không thể nhìn thấy họ như những cá nhân. Tôi cảm giác như bạn vừa mới lên một chiếc xe đò và bạn cảnh giác trước tất cả những người đang ngồi ghế đối diện nhìn chằm chằm vào bạn với hi vọng tìm thấy điều gì đó trong vẻ bề ngoài của bạn khiến họ buồn cười. Tất nhiên, tôi biết đây là một sự so sánh khập khiễng; những con người này đang tìm kiếm ở tôi điều gì đó chứ không phải cái gì để đáng cười to, những tín hiệu của phạm tội. Song, sự khác nhau không quá lớn lắm, và, dầu sao, đó là ý tưởng tôi có lúc đó.

Với đám đông và không khí bức bối tôi đang cảm thấy hơi ong ong. Tôi đưa mắt mình xa khỏi tòa án nhưng không thể nào nhận ra bất cứ gương mặt nào. Ban đầu tôi khó có thể tin tất cả những con người này đến để dự phiên tòa của tôi. Nó kiểu như kinh nghiệm mới, trở nên tập trung vào một sở thích; trong một cách thông thường không một ai được trả tiền nhiều để chú ý tới tôi.

“Đông khiếp nhỉ!”, tôi ghi nhận với cảnh sát bên trái tôi, và cảnh sát giải thích báo chí có trách nhiệm về điều này.

Cảnh sát chỉ vào một nhóm người đàn ông tại một cái bàn ngay phía dưới ô của bồi thẩm đoàn. “Họ đấy!”.

“Ai cơ?”, tôi hỏi, và cảnh sát đáp, “Báo chí”. Một trong họ, cảnh sát nói thêm, là một người bạn già của anh.

Lúc sau, người đàn ông mà cảnh sát chỉ đã nhìn tới chúng tôi và bước tới bục tù nhân, bắt cả hai tay đầy thân mật với cảnh sát. Phóng viên là một người đàn ông trung niên với một biểu hiện hơi dữ tợn, nhưng thái độ của ông thì hoàn toàn bình thản. Chỉ khi tôi nhận ra hầu hết con người trong phòng xử án đang chào hỏi lẫn nhau, trao đổi thông tin và hình thành nên các nhóm – đối xử với nhau, trong thực tế, giống như trong một câu lạc bộ nơi một nhóm người có chung sở thích và đứng với nhau khiến ai đó lúng túng. Vâng, không nghi ngờ gì nữa, để giải thích ấn tượng không giống ai tôi trở thành người thừa ở đây, một kiểu kẻ-đạp-đổ-cổng.

Tuy nhiên, phóng viên đối xử với tôi hoàn toàn dễ thương, và nói ông hi vọng tất cả sẽ tốt đẹp đối với tôi. Tôi cảm ơn ông, và ông nói thêm với một nụ cười:

“Cậu biết đấy, chúng tôi đã làm phóng sự về cậu đôi chút. Chúng tôi luôn luôn có một ấn bản ngắn trong mùa hè, và có chút đáng giá để viết về trường hợp ngoài lề của cậu và phiên tòa sau đó. Tôi hi vọng cậu đã nghe về nó; trường hợp con giết cha”.

Ông kéo sự chú ý của tôi tới một trong các nhà báo ở bàn báo chí, một người đàn ông người nhỏ, béo đeo đôi kính to đùng viền đen, người khiến tôi nghĩ là một con chồn được chăm sóc quá mức.

“Anh bạn đó là một phóng viên đặc biệt của một trong những Nhật báo Paris. Vấn đề của thực tế là, anh bạn đó không quan tâm tới trường hợp của cậu. Anh được gửi đến cho vụ con giết cha, nhưng họ cũng yêu cầu anh lo luôn cả trường hợp của cậu”.

Lưỡi tôi lập tức uốn nói: “Họ rất chi là tử tế”, nhưng sau đó tôi lại nghĩ nó giống như ngờ nghệch. Vẫy tay thân ái chào tạm biệt chúng tôi, và một vài phút không có chuyện gì xảy ra.

Sau đó, kết hợp cùng với một vài đồng nghiệp, luật sư của tôi xăng xái, trong bộ quần áo của luật sư. Luật sư bước tới bàn báo chí và bắt tay các nhà báo. Họ tiếp tục cười to và tán chuyện cùng nhau, tất cả dường như rất giống họ đang ở nhà mình lúc này ở đây, cho đến khi tiếng chuông rung lên lảnh lót và mọi người ai vào chỗ của mình. Luật sư của tôi đến chỗ tôi, bắt tay và khuyên tôi trả lời tất cả các câu hỏi một cách càng ngắn gọn càng tốt, không phải thông tin tự nguyện, và nhớ  lựa ý luật sư với mỗi câu trả lời xong.

Tôi nghe tiếng ghế kéo bên trái tôi, và một người đàn ông gày, cao đeo chiếc kính kẹp mũi, áo choàng đỏ khi ông ngồi vào chỗ của mình. Ủy viên công tố, tôi để ý. Một thư kí của phiên tòa tuyên bố Người Đáng kính của họ đang bước vào, và cùng khoảnh khắc đó hai chiếc quạt điện to đùng bật vè vè ngay trên đầu. Ba thẩm phán, hai người mặc áo đen và người thứ ba áo đỏ, với những chiếc va-li tài liệu trong tay họ, bước vào và đi những bước chắc chắn tới chiếc ghế băng dài, chỉ cao hơn một vài feet so với mức sàn của phòng xử án. Người đàn ông mặc áo đỏ ngồi ở chiếc ghế có tựa cao ở giữa, để chiếc mũ văn phòng của ông lên bàn, dùng khăn tay lau chiếc đầu hói nhỏ của ông, và tuyên bố mọi việc bắt đầu lúc này.

Các phóng viên đã sẵn sàng bút bút bi của họ; Tất cả họ mặc phía ngoài không khác gì nhau hơi cứng nhắc, trừ một người, một người đàn ông trẻ hơn những đồng nghiệp của anh, diện sơ mi sợi tổng hợp màu xám thắt cà vạt xanh da trời, anh vừa bỏ chiếc bút máy lại trên bàn, nhìn chằm chằm vào tôi chăm chú. Anh có một gương mặt hơi phính, cân phân; điều gây sự chú ý của tôi là đôi mắt anh, mắt rất trong, mệt mỏi, nhìn trực diện vào tôi, mặc dầu không thể hiện rõ tình cảm gì. Vào một lúc tôi có một ấn tượng kì lại, dường như tôi bị soi xét kĩ bản thân mình. Đó – và thực tế là tôi đã không quen với tiến trình tòa án – có thể giải thích tại sao tôi đã không thể theo kịp nhưng đoạn bắt đầu: nhiều bức kí họa về bồi thẩm đoàn, hàng loạt câu hỏi được quan tòa chủ tọa hỏi ủy viên công tố, chủ tịch ban hội thẩm, và luật sư bào chữa của tôi (mỗi lúc gã nói tất cả đầu của những đàn ông trong bồi thẩm đoàn để rung lên cùng nhau theo chiều chiếc ghế băng), đọc nhanh bảng luận tội, trong phiên tòa tôi nhận ra một vài cái tên giống nhau của con người và nơi chốn cũng giống nhau; sau đó vài câu hỏi bổ trợ được gửi tới cho luật sư của tôi.

Tiếp theo, Quan tòa tuyên bố phiên tòa sẽ gọi hàng loạt nhân chứng theo danh sách. Một vài cái tên được thư kí đọc to lên thậm chí khiến tôi ngạc nhiên. Từ trong đám đông, cho đến giờ tôi nhìn thấy những khối mờ mờ của các gương mặt, mặt này tiếp mặt kia, Raymond, Masson, Salamano, bảo vệ từ Viện dưỡng lão, Pérez già cả, và Marie, nàng mang tới cho tôi một chút lo lắng nhẹ vì cái vẫy tay của nàng trước những người khác ngay từ ngoài cửa. Tôi đang nghĩ lạ lùng làm sao khi tôi chẳng nhận ra họ trước khi tôi nghe thấy cái tên cuối cùng đọc lên, đó là Céleste. Khi anh đứng dậy, tôi nhận ra bên cạnh anh một phụ nữ bé nhỏ xinh lạ mặc chiếc áo khoác của đàn ông và nhanh nhẹn, người đã quyết định không khí, người đã ngồi cùng bàn với tôi tại nhà hàng. Mắt ả đóng cứng vào tôi, tôi đã nhận ra. Nhưng tôi không có thời gian để băn khoăn về ả; Quan tòa đã bắt đầu đặt những câu hỏi tiếp tục.

Quan tòa cho biết phiên tòa giả định thích hợp để bắt dầu, và ông cần nói nghiêm túc, ông hi vọng đám đông cần kiềm chế bất cứ sự căng thẳng nào dù có chuyện gì xảy ra. Ông giải thích ông đang ở đây để kiểm soát tiến trình, như kiểu của trọng tài, và ông sẽ có quan điểm từng phần tỉ mỉ của vụ án này. Lời phán quyết của bồi thẩm đoàn sẽ được ông tuyên bố trong tinh thần của công lí. Cuối cùng, nếu có bất cứ tín hiệu nào gây nhiễu ông sẽ làm rõ tại phiên tòa.

Ngày được đốt nóng hầm hập. Một trong những công dân đang quạt cho bản thân mát bằng những tờ báo, và có tiếng sột soạt đều đặn của tờ báo giấy bị vò nhăn nhúm. Một tín hiệu từ quan tòa chủ tọa, thư kí của phiên tòa mang ba chiếc quạt bện rợm, để ba quan tòa cùng phe phẩy.

Việc thẩm vấn tôi bắt đầu ngay lập tức. Quan tòa đặt câu hỏi cho tôi hoàn toàn bình tĩnh và thậm chí tôi nghĩ, còn có sự thân ái. Đến lần thứ n tôi được hỏi đưa ra chi tiết về nhân thân của tôi, và mặc dầu cảm thấy phát mệt từ tim vì những hình thức kiểu này, tôi nhận ra mọi thứ thật đủ tự nhiên; sau tất cả, sẽ là một điều đáng giật mình nếu phiên tòa đang cố gắng với một người đàn ông sai trái.

Quan tòa sau đó trình ra một tập tài liệu về những gì tôi đã làm, dừng lại sau chừng hai đến ba câu để hỏi tôi,  “Có đúng chứ?” để tôi luôn luôn đáp lời: “đúng thưa ngài” như luật sự đã khuyên tôi. Đó là một tiến trình dài, khi Quan tòa bám vào từng chi tiết. Trong khi các phóng viên bận rộn tốc kí. Nhưng tôi thỉnh thoảng lại tỉnh người bởi đôi mắt của người trẻ nhất chĩa vào tôi; cả ả người máy nhỏ bé lạ kì nữa chứ. Những người trong bồi thẩm đoàn, tuy nhiên, đều tất cả tập trung cả vào phán xét vụ cướp – đỏ, và tôi lại nhắc nhở tới đám khác ngồi một bên như trên một chiếc tàu điện. Hiện tại, ông ho nhẹ, giở một vài trang trong tập tài liệu của ông, và, vẫn còn quạt phe phẩy trên mặt, chú tâm cẩn trọng tới tôi.

Bây giờ ông đề xuất, ông nói, để đào sâu vào những vấn đề chính, trên một góc nhìn nông cạn, có lẽ dường như ngoài phiên tòa, nhưng thực tế có được tương thích cao. Tôi đoán là ông đang nói về Mẹ, và cùng với khoảnh khắc nhận ra tôi đã tìm ra điều này thật đáng ghét thế nào. Câu  hỏi đầu tiên của ông là: Tại sao tôi đã gửi mẹ tới Viện? Tôi đáp lại lí do hoàn toàn đơn giản: Tôi không có đủ tiền và biết bà được chăm sóc đúng đắn ở Viện Dưỡng lão. Sau đó ông hỏi tôi có phải việc chia sẻ không làm tôi đau  buồn quá. Tôi giải thích cả Mẹ và tôi đều không quá kì vọng vào nhau – hoặc, với vấn đề này, với bất kì ai khác nữa; bởi vì cả hai chúng tôi đều quen với những điều kiện mới đủ dễ dàng. Quan tòa sau đó bảo ông không hứa hẹn nhấn mạnh quan điểm, và hỏi Ủy viên công tố nếu như công tố có thể hỏi thêm bất cứ câu hỏi nào với tôi trong giai đoạn này.

Ủy viên công tố, một nửa người quay về phía tôi, nói, không hề nhìn về hướng tôi, rằng tùy theo Phán quyết của Phiên tòa, công tố muốn được biết việc tôi trở lại dòng suối với ý định giết tên A rập. Tôi trả lời, “không”. Trong trường hợp đó, tại sao tôi lấy khẩu súng ngắn đi cùng tôi, và tại sao lại trở lại đúng chính xác thời điểm đó? Tôi đáp lời thuần khiết đó là một vấn đề tình cờ. Công tố sau đó quan sát với giọng cáu kỉnh: “Rất tốt. Rồi tất cả để thế này đây”.

Tôi đã không thể theo dõi hoàn toàn những gì diễn ra tiếp theo. Dầu sao, sau những phiền nhiễu từ chiếc ghế băng, Ủy viên công tố, và luật sư bào chữa của tôi, quan tòa phán xử tuyên  bố phiên tòa lúc này đang lên; nhưng phiên tòa tạm nghỉ cho đến trưa, khi bằng chứng tập trung đủ.

Hầu hết trước đó tôi biết mọi điều gì đang xảy ra tôi được đưa vội ra xe bán tải của nhà tù, đưa tôi trở lại, và tôi được ăn bữa trưa. Sau một thời gian ngắn, chỉ đủ cho tôi nhận thấy tôi đang cảm thấy mệt mỏi thế nào, họ đến gặp tôi. Tôi được đưa trở lại phòng lúc trước, đối mặt với những gương mặt giống hệt, và tất cả mọi thứ bắt đầu lại. Nhưng cái nóng ngày một tăng lên, và bởi một vài người cổ vũ diệu kì được sắp đặt cho mọi người: bồi thẩm đoàn, luật sư của tôi, Ủy viên công tố, và cũng một vài nhà báo nữa. Người đàn ông trẻ và ả người may vẫn còn ở chỗ của họ. Nhưng họ không phe phẩy quạt nữa và , như trước đó, họ chưa bao giờ rời mắt khỏi tôi.

Tôi lau mồ hôi khỏi mặt mình, nhưng tôi hiếm khi tỉnh táo ở một nơi hoặc với ai cho đến khi tôi nghe quản lí Viện Dưỡng lão được gọi đến bục nhân chứng. Khi hỏi mẹ tôi có phàn nàn về cách cư xử của tôi, quản lí đáp, “có”, nhưng không nhiều lắm; hầu hết tất cả những người làm chứng của Viện dưỡng lão có những niềm tin bất lợi chống lại những mối quan hệ của họ. Quan tòa hỏi ông nói rõ thêm và trực tiếp hơn; có phải Mẹ đã phản ứng với tôi việc đưa bà tới Viện Dưỡng lão, và ông đáp: “Đúng”, lần nữa. Nhưng lần này ông đảm bảo được câu trả lời của ông.

Để trả lời câu hỏi khác ông đáp, vào cái ngày đám tang ông đã ngạc nhiên chừng nào về sự bình tĩnh của tôi. Yêu cầu giải thích ông có  ý thế nào “sự bình tĩnh của tôi”, quản lí Viện cụp mắt xuống và nhìn chằm chằm vào hai chiếc giày một lúc. Sau đó ông giải thích, tôi đã không muốn nhìn xác Mẹ, hoặc rỏ một giọt nước mắt, và tôi đã rời đi khỏi ngay lập tức sau khi đám tang kết thúc, không thèm ngó ngàng gì ngôi mộ của bà. Một điều khác nữa đã khiến ông ngạc nhiên. Một trong những điều hành lễ tang đã nói với ông tôi đã không biết tuổi của mẹ mình. Có một khoảng lặng ngắn; sau đó Quan tòa hỏi ông nếu ông có thể kết luận, ông nói gì về người tù trên bục kia. Quản lí dường như hơi bối rối với điều này, và Quan tòa giải thích: “Đó là một câu hỏi chính thống. Tôi chuẩn bị kết nó”.

Ủy viên công tố sau đó hỏi, quản lí có bất cứ câu hỏi nào đặt ra không, và ông trả lời lớn: “Chắc chắn không! Tôi đã nói tất cả những gì tôi muốn”. Âm lượng của ông và ánh nhìn đắc thắng trên gương mặt ông, lúc ông liếc nhìn tôi, đánh dấu rõ rằng, tôi có cảm nhận như tôi chưa hề cảm nhận nhiều năm qua. Tôi có một đam mê ngốc nghếch là bật khóc nức nở. Đây là lần đầu tiên tôi đã nhận ra tất cả những con người này đã căm thù tôi thế nào.

Sau khi hỏi bồi thẩm đoàn và luật sư của tôi xem họ có bất cứ câu hỏi nào, Quan tòa nghe nhân chứng của bảo vệ. Bước chân lên bục bảo vệ ném một cái nhìn về phía tôi, sau đó quay đi. Trả lời những câu hỏi ông nói, tôi đã từ chối nhìn xác Mẹ, tôi đã hút thuốc lá và ngủ, và uống café au lait. Sau đó, tôi cảm giác kiểu như một làn sóng giận dữ – ngạc nhiên lan rộng khắp phòng xử, và cho lần đầu tiên tôi hiểu rằng tôi phạm tội. Họ yêu cầu bảo vệ nhắc lại những gì ông nói về cà phê và về việc tôi hút thuốc.

Ủy viên công tố quay về tôi lần nữa, với một cái nhìn chiến thắng trong mắt ông. Luật sư bào chữa của tôi hỏi bảo vệ, ông cũng đã không hút thuốc. Nhưng Ủy viên công tố phản đối mạnh mẽ điều này. “Tôi muốn biết”, công tố gạo lên giận dữ, “ai đang điều hành trong phiên tòa này?”. Hoặc liệu bạn bè tôi có nghĩ một nhân chứng đã phán xét không công bằng cho phần luận tội anh ta sẽ đảo lộn bằng cớ, những bằng chứng đầy đủ và xác thực, chống lại khách hàng của anh ta?”. Không thể tồi hơn, Quan tòa yêu cầu bảo vệ trả lời câu hỏi.

Anh bạn già động đậy đôi chút. Sau đó, “Ồ, tôi biết tôi đã không phải hoàn thành nó”, bảo vệ ậm ừ, “nhưng tôi đã đi lấy một điếu thuốc từ quí ông trẻ khi cậu mời tôi – chỉ là phép lịch sự”.

Quan tòa tiếp đó hỏi tôi có bình luận gì không. “Không gì cả”, tôi nói, “trừ bằng chứng hoàn toàn đúng. Sự thật là tôi đã mời ông một điếu thuốc lá”.

Bảo vệ nhìn tôi ngạc nhiên và kiểu như thán phục. Sau đấy, sau khi e hèm một chút, ông tự nguyện xác nhận ông là người khuyên tôi nên uống chút cà phê.

Luật sư của tôi vui sướng: “Bồi thẩm đoàn sẽ đánh giá cao”, gã nói, “nhân tố quan trọng trong nhiệm vụ này”.

Ủy viên Công tố tuy nhiên đã giậm chân ông lần nữa. “Hoàn toàn vậy”, ông nói to trên đầu chúng tôi. “Bồi thẩm đoàn sẽ đánh giá cao nó. Và họ sẽ đưa ra kết luận, cho dù bên thứ ba có mời nhiệt tình một tách cà phê, thì tù nhân, với phép lịch sự tối thiểu, nên phải từ chối nó, nếu chỉ là kính trọng xác chết của người đàn bà khốn khổ đã mang cậu ta đến với thế giới này”.

Sau đó bảo vệ trở lại chỗ ngồi của ông.

Khi Thomas Pérez được gọi lên, một nhân viên của tòa đã giúp ông bước lên bục. Pérez khẳng định, mặc dù ông là một người bạn lớn của mẹ tôi, ông đã gặp tôi duy nhất một lần, đúng vào cái ngày đám tang. Được hỏi tôi đã ứng xử thế nào vào ngày đó, ông đáp:

“Ồ, tôi thật buồn khổ nhất, mọi người biết đấy. Quá đau buồn để có thể nhận biết mọi thứ. Nỗi thống khổ của tôi đã làm mờ mắt tôi, tôi nghĩ vậy. Đó là một cú sốc lớn, cái chết người bạn yêu thương của tôi; thực tế tôi đã ngất đi trong đám tang. Bởi vậy tôi thật khó nhận ra quí cậu trẻ này được”.

Ủy viên Công tố yêu cầu ông kể cho Tòa ông có nhìn thấy tôi khóc sụt sùi. Và khi Pérez trả lời: “Không”, còn nhấn mạnh thêm: “Tôi tin Bồi thẩm đoàn sẽ ghi chú câu trả lời này”.

Luật sư của tôi đứng lên ngay lập tức, và  hỏi Pérez với giọng mà tôi nghĩ không cần phải gây hấn vậy.

“Nào, nghĩ kĩ đi, ông lão của tôi! Ông có thể thề rằng ông đã nhìn thấy thân chủ của tôi không rỏ một giọt nước mắt?”.

Pérez trả lời: “không hề khóc”.

Lúc này một vài người cười gằn, và luật sư của tôi xắn lại tay áo choàng, nói rành rọt:

“Đây là điển hình của cách trường hợp này gọi là đạo đức. Không sự cố gắng nào được đặt ra để loại bỏ những thực tế của sự thật”.

Ủy viên Công tố bỏ qua khẳng định này, ông đã vạch đi vạch lại bút chì của ông lên vỏ ngoài chiếc va li của ông, dường như hoàn toàn không khác nhau.

Tòa nghỉ 5 phút, trong lúc đó luật sư của tôi nói với tôi mọi việc giải quyết đang thực sự tốt đẹp. Sau đó Céleste được gọi đến. Anh là một nhân chứng cho bên bào chữa. Bào chữa có ý nghĩa đối với tôi.

Thỉnh thoảng Céleste ném cho tôi một ánh nhìn; anh đang vò chiếc mũ phớt bằng hay tay lúc anh làm nhân chứng. Anh mặc bộ comple đẹp nhất của anh, bộ anh mặc nhân thỉnh thoảng một Ngày Chủ nhật anh đi cùng tôi đi đến cuộc đua. Nhưng bằng cớ, anh đã không dựng cổ áo lên; phía trên cùng chiếc áo sơ mi của anh, tôi nhận ra, chỉ được thắt bằng chiếc cúc kim loại. Được hỏi có phải tôi là một trong những khách hàng của anh, anh đó, “đúng và một người bạn nữa”. Được hỏi anh cho ý kiến về tôi, anh nói tôi “tốt, và khi được hỏi giải thích anh nói vậy nghĩa gì, anh đáp lại ai ai cũng biết đó có nghĩa gì. “Tôi là một người đàn ông bí mật?”. “Không”, anh đáp, “Tôi không nên gọi cậu ấy vậy. Nhưng cậu ấy không phải là người phí hoài hơi thở của mình, giống như nhịp điệu”.

Ủy viên công tố hỏi anh tôi có nợ ròng hóa đơn hàng tháng tại nhà hàng của anh ấy lúc anh trình ra không. Céleste cười to, “Ồ, cậu ấy trả ngay  tắp lự, đúng vậy. Còn những hóa đơn chỉ là những chi tiết-hóa, giữa cậu ấy và tôi”. Sau đó anh được hỏi nói về việc anh nghĩ gì về việc phạm tội. Anh đặt hai tay mình lên thanh ngang của bục và mọi người có thể nhìn thấy anh đã sẵn sàng cho bài phát biểu.

“Trong suy nghĩ của tôi đó chỉ là một tai nạn, một sự kém may mắn, nếu như các ông muốn dùng từ khác. Và một thứ giống như bạn đã mất kiểm soát của mình”.

Anh ấy muốn tiếp tục nói, nhưng Quan tòa đã cắt ngang. “Hoàn toàn được rồi. Tốt rồi, cảm ơn anh”.

Chừng một giây Céleste lặng đi, sau đó anh giải thích là anh chưa kết thúc hết những gì anh muốn nói. Họ bảo anh tiếp tục, nhưng nói ngắn gọn.

Anh chỉ nhắc lại đó là “chỉ đơn thuần tai nạn”.

“Đó là có lẽ phải vậy”, Quan tòa quan sát, “Nhưng những gì chúng ta ở đây là cố gắng cho những tai nạn kiểu thế, tuân theo luật pháp. Cậu có thể bước xuống”.

Céleste quay và nhìn tôi. Mắt anh ươn ướt và môi anh rung rung. Đó là chính xác nếu anh muốn nói: “Ồ, tôi đã làm những điều tốt nhất cho cậu, cậu bé già. Tôi sợ đã không giúp được gì nhiều. Tôi xin lỗi”.

Tôi đã không nói gì, hay có phản ứng gì, nhưng đây là lần đầu tiên trong đời tôi, tôi muốn hôn một người đàn ông.

Quan tòa nhắc lại yêu cầu anh bước xuống, và Céleste trở lại chỗ ngồi giữa đám đông. Trong suốt phần còn lại để nghe anh vẫn ở đó, hơi ngả về phía trước, cùi trỏ đặt trên đầu gối và chiếc mũ phớt trong hai tay anh, không bỏ sót một lời nào trong tiến trình phiên tòa.

Tiếp theo đến lượt Marie. Nàng đội mũ và trông vẫn hoàn toàn xinh đẹp, mặc dù tôi thích nàng để tóc buông hơn. Từ đây tôi có thoáng nhìn thấy bờ ngực mềm của nàng, và môi dưới của nàng bĩu nhẹ luôn luôn mê hoặc tôi. Nàng xuất hiện trông rất lo lắng.

Câu hỏi đầu tiên là: Nàng biết tôi bao lâu rồi? Kể từ thời gian khi nàng ở trong văn phòng của chúng tôi, nàng đáp. Sau đó Quan tòa hỏi nàng mối quan hệ của chúng tôi là thế nào, và nàng nói là là bạn gái của tôi. Trả lời câu hỏi khác, nàng thú nhận hứa hẹn sẽ cưới tôi. Ủy viên Công tố, người đã đang nghiên cứu một tài liệu trước mặt ông, hỏi nàng khá sắc khi nào thì “gian díu” của chúng tôi bắt đầu. Nàng đưa ra ngày. Ông sau đó quan sát bằng không khí có-thể chính xác nàng nói ngày hôm sau đám tang mẹ tôi. Sau khi đưa ra thông tin bẫy này ông khẳng định bằng một tông giọng đanh thép nhẹ là hiển nhiên đây là một “chủ đề tế nhỉ” và ông có thể bước vào một cảm xúc của một quí cô trẻ, nhưng – lúc này giọng của ông càng ngày càng rít hơn – nhiệm vụ của ông có trách nhiệm của ông giảm nhẹ những suy xét của sự thanh tao này.

Sau tuyên bố đó ông hỏi Marie nói thông tin đầy đủ chúng tôi làm gì hôm đó lúc tôi “giao cấu” với nàng lần đầu tiên. Marie đầu tiên đã không trả lời, nhưng Công tố yêu cầu, và sau đó nàng nói với ông chúng tôi gặp nhau khi đi tắm, đi xem phim cùng nhau và sau đó tới chỗ tôi ở. Ông sau đấy khẳng định trước phiên tòa, đó là những kết luận chắc chắn của chính Marie tại những tiến trình trước khi điều tra, ông đã nghiên cứu chương trình phim ngày hôm đó, và quay về phía Marie hỏi nàng tên của bộ phim chúng tôi đã xem. Trong một giọng nói thấp nàng đáp đó là phim có Fernandel đóng. Cùng thời gian nàng kết thúc, phòng xử lặng phắc như thể bạn có thể nghe được tiếng kim rơi.

Trông có vẻ đau khổ, Ủy viên Công tố đã đứng thẳng người dậy và chỉ thẳng vào tôi, nói trong một tông giọng như thể tôi đã cam kết là ông chuyển động mạnh mẽ:

“Kính thư quí ông trong Bồi thẩm đoàn, tôi phải khẳng định với các ngài ngay sau ngày đám tang mẹ, người đàn ông này đã đến bể bơi, bắt đầu cặp kè với một cô gái, và đi xem phim hài. Đó là tất cả những gì tôi muốn nói”.

Khi ông ngồi xuống khoảng lặng chết chóc giống hệt đã diễn ra. Sau tất cả Marie đột nhiên bật khóc. Ông đã nắm mọi thứ sai rồi, nàng nói; đó không chút nào giống và thực sự như vậy cả, ông đã uy hiếp nàng hiểu ngược lại những gì nàng muốn nói. Nàng biết tôi rất rõ, và nàng chắc chắn tôi đã không làm bất cứ điều gì sai – và vậy đấy. Một tín hiệu từ chủ tọa phiên tòa, một trong những nhân viên của phiên tòa đã dẫn nàng đi, và tiếp tục nghe phần còn lại.

Hiếm có ai dường như nghe được Masson nói, nhân chứng tiếp theo. Anh ấy khẳng định tôi là một người bạn trẻ đáng kính trọng; “và, gì nữa nhỉ, một gã thật thà”. Không một ai chú ý tới Salamano, khi ông nói với họ tôi luôn luôn tử tế thế nào đối với con chó của ông, hoặc khi, trong việc trả lời một câu hỏi về mẹ tôi và bản thân tôi, ông nói Mẹ và tôi có rất ít điểm chung và giải thích tại sao tôi quyết định để bà đến Viện Dưỡng lão. “Mọi người phải hiểu”, ông nói thêm, “Mọi người phải hiểu”. Nhưng không một ai dường như hiểu cả. Ông được yêu cầu bước xuống.

Raymond là người tiếp theo, và nhân chứng cuối cùng. Anh ta đưa tay vẫy nhẹ tôi và nói tôi rất ngây thơ. Quan tòa phản đối anh ta.

“Cậu đến đây để làm nhân chứng, không phải là nêu quan điểm của  cậu ở phiên tòa, và cậu phải khẳng định bản thân mình để trả những câu hỏi tôi đưa ra cho cậu”.

Sau đó anh ta được hỏi làm rõ mối quan hệ của anh ta với người đã mất, và Raymond có cơ hội giải thích đó là anh ta, không phải tôi, chống lại người đàn ông đã chết bởi một mối căm thù, bởi vì anh ta, Raymond, đã đánh đập em gái của người đàn ông đó. Quan tòa hỏi anh ta người chết không có lí do gì để ghét tôi cả. Raymond nói với quan tòa việc sáng hôm đó tôi có mặt trên bãi biển là một sự trùng khớp thuần khiết.

“Việc sau đó đã xảy đến thế nào”, Công tố hỏi, “có phải bức thư đã dẫn tới thảm họa mà tù nhân gây ra?”.

Raymond đáp lại điều này, đơn thuần cũng chỉ là một sự tình cờ.

Với điều này Công bố lập tức biện hộ trong trường hợp này thì là “sự tình cờ” hay là “sự trùng khớp” dường như đóng một phần to lớn đáng kể. Đó có phải là sự tình cờ tôi đã không can thiệp khi Raymond đánh đấm tình nhân? Thuật ngữ “sự tình cờ” là hoàn toàn thích hợp khi tôi sử dụng để cam đoan cho Raymond tại sở cảnh sát và đã làm thế, đúng dịp ấy, những lời tuyên bố có ưu ái quá đáng đối với anh ta không? Để kết luận Công tố hỏi Raymond cho biết phương tiện sinh nhai của anh ta là gì.

Bản thân anh ta mô tả mình là một người giữ kho, Công tố thông tin cho bồi thẩm đoàn đó là kiến thức chung chứng tỏ rằng nhân chứng sống dựa vào kiếm chác từ những người phụ nữ. Tôi, ông ta nói, là người cộng tác và bạn thân thiết với người đàn ông này; trong thực tế, toàn bộ nền tảng của vụ phạm tội là những mô tả sa đọa nhất về đạo đức. Và thậm chí còn đáng ghê tởm hơn với cá nhân là một người tù, một con quỉ toàn bộ không có tính người thiếu cả tinh thần đạo đức.

Raymond nhẹ nhàng phản ứng lại, và luật sư của tôi cũng phản đối. Họ được thông báo rằng Công bố phải kết thúc phần biện hộ của ông.

“Tôi mới gần kết thúc thôi”, ông ta đáp; sau đó quay về phía Raymond. “Tù nhân có phải là bạn của anh?”.

“Chắc chắn rồi. Chúng tôi là những người bạn tốt nhất, như mọi người nói”.

Công tố cũng đặt câu hỏi tương tự đối với tôi. Tôi nhìn vào Raymond chằm chằm, và anh ta đã không quay lại.

Rồi, “vâng”, tôi đáp.

Công tố quay về phía bồi thẩm đoàn.

“Không chỉ người đàn ông đang đứng trên bục trước mặt các ông đây, đam mê hầu hết những cuộc truy hoan rượu chè đáng xấu hổ nhất ngay ngày hôm sau đám tang của mẹ cậu ta. Cậu ta giết một người đàn ông ngay chớp mắt, với một đeo đuổi báo thù nhơ nhớp trong thế giới ngầm của đĩ điếm và chủ chứa. Đó, những quí ông của bồi thẩm đoàn, là kiểu người của tù nhân đấy”.

Ngay sau khi ông ngồi xuống, luật sư của tôi, không còn đủ kiên nhẫn, đã giơ tay thật cao khiến cho ống tay áo rơi cả về phía sau, lộ rõ hết cả cổ tay áo sơ mi hồ cứng của gã.

“Đây là thân chủ của tôi trong phiên tòa luận tội,  về việc chôn mẹ cậu ta, hay giết người?”, gã hỏi.

Vài tiếng xì xào trong phiên tòa. Nhưng sau đấy Công bố đã giậm chân, và quấn chiếc áo tòa quanh mình, nói rằng ông ta thật ngạc nhiên về sự ngây thơ của người bạn đã không nhìn thấy sự khác biệt giữa hai nhân tố của vụ án, có một đường kết nối sống còn ở đây”. Tâm lí họ giao du cùng nhau, nếu nhưng anh ta có thể cũng làm vậy. “Tóm lại”, ông kết luận, nói với giọng rất hùng hồn, “tôi buộc tội bị cáo có hành vi trong đám tang của mẹ cậu ta cách đó đã chứng tỏ cậu ta sinh ra đã là một kẻ phạm tội”.

Những lời này dường như ảnh hưởng quá mạnh tới bồi thẩm đoàn và công chúng. Luật sư của tôi chỉ rùng mình và lau mồ hôi trên trán gã. Nhưng hiển nhiên là gã không hề cuống, và tôi có một cảm nhận mọi thứ đã không còn tốt đối với tôi.

Ngay sau chứng cứ này phiên tòa tạm nghỉ. Lúc tôi được dẫn tới tòa án từ xe bán tải của nhà tù, tôi tỉnh táo trong nhiều khoảnh khắc cốt lõi với cảm nhận giống nhau về một tối mùa hè đang-ở-ngoài-cửa. Và, ngồi trong bóng tối của buồng giam di động của mình, tôi nhận ra, vang vọng trong trí não mệt mỏi của tôi, tất cả những tiếng động tính cách của một thị trấn tôi từng yêu, và của một giờ chắc chắn trong ngày tôi đã luôn luôn tận hưởng một cách khác biệt. Những tiếng hét rao của các cậu bé bán báo trong không gian sẵn uể oải rồi, những tiếng gọi cuối cùng của lũ chim trong khu vườn công cộng, và tiếng khóc chào mời của người bán bánh mì kẹp rong, tiếng chói tai của xe đò trên góc phố hẹp ở thị trấn trên cao, và tiếng sột soạt mờ nhạt trên đầu như bóng đêm buông xuống xa phía cảng biển – tất cả những tiếng động này khiến tôi trở lại nhà tù giống như một chuyến du hành của một người mù đang trong cuộc hành trình mà mỗi bước chân anh ta đều rõ từ trái tim mình.

Vâng, đây là giờ khắc đêm lúc này – dường như đã trôi qua được bao lâu từ lúc trước! – Tôi luôn luôn cảm nhận từng nội dung trác tuyệt của cuộc đời. Sau đó, điều chờ tôi là một đêm ngủ dễ dàng, không giấc mơ. Lúc này là giờ khắc giống hệt, nhưng là một sự khác biệt rồi; Tôi đang trở lại buồng giam, và điều đợi tôi là một đêm ám ảnh bởi những điềm không lành cho ngày sắp tới. Và bởi tôi đã học được rằng những con đường giống nhau tạo vết trong những đêm hè bụi bặm có lẽ sẽ dẫn tới những nhà tù với những giấc ngủ không còn ngây thơ và gặp chút vấn đề.

(Hết chương III, phần II)

Còn tiếp

(*) Thực sự là tôi ngộp thở khi đọc Albert Camus. Chắc hẳn với Gilbert Stuart hẳn cũng vậy. Nếu mà được đọc từ nguyên bản tiếng Pháp chắc còn tuyệt vời nữa. Nhưng tôi cũng tạm hài lòng với điều này đã, khi được tiếp xúc và hiểu được Camus. Vốn là một phóng viên, cũng thích vo ve chuyện thế sự, dù không vinh hạnh được một lần tới tòa và dự một phiên tòa, nhưng xem trên trực tuyến truyền hình thì cũng có, nhưng tôi thấy Camus cảm nhận về phóng viên cực rõ. Vẫn những tay thích tọc mạch, vẫn yêu những chuyện chân tơ kẽ tóc và giật gân. Ở góc độ một tù nhân, cái nhìn của Mersault cứ như một lăng kính phản chiếu. Một bên là ồn ào, một góc là lặng lẽ. Một bên là tìm sao cho ra những chuyện vớ vẩn để câu khách, một bên chỉ có mong muốn là phiên tòa xử đúng, xử đủ. Nhưng hầu như cái phần nổi nhỏ bé đã chiếm lĩnh cái tảng băng chìm đáng kính trọng kia rồi. Cái tình yêu lặng lẽ của Marie. Cái tình bạn chân chính nhưng đã bị khuất lấp, trong khi cái tình bạn giả hiệu lại trở thành đòn búa tạ giáng xuống chàng trai trẻ Mersault.

Người lạ (tiếp theo 17)

3000

Albert Camus ở Paris, Pháp năm 1959. Ảnh: AFP/Getty Image.

NGƯỜI LẠ

Albert Camus

Dựa theo bản dịch tiếng Anh từ tiếng Pháp của Stuart Gilbert (N.H.T chuyển ngữ (*)/Phần 2)

>> Phần trước

Phần II

I

TÔI bị tra hỏi vài lần ngay lập tức sau khi bị bắt. Nhưng tất cả là những kiểm tra chính thống, như nhân thân của tôi và vân vân. Việc điều đầu tiên của những điều này diễn ra tại sở cảnh sát, dường như không một ai quan tâm cho lắm trong trường hợp này. Tuy nhiên tôi được chuyển đi trước khi gặp Dự thẩm, tôi thấy mắt ông ta nhìn tôi nghi ngờ rõ rệt. Giống như những người khác, ông bắt đầu hỏi tôi tên, địa chỉ và nghề nghiệp, và ngày sinh cùng nơi sinh của tôi. Sau đó ông ướm hỏi tôi có chọn một luật sư bảo vệ. Tôi đáp, “không”, tôi đã không nghĩ vê nó và hỏi ông có thực sự cần thiết tôi cần có một luật sư.

“Tại sao cậu hỏi vậy?”, ông hỏi. Tôi đáp lại tôi thấy trường hợp của tôi rất đơn giản. Ông mỉm cười, “Ồ, có lẽ dường như với cậu là vậy. Nhưng chúng ta có luật pháp tuân thủ, và, nếu cậu không có một luật sư, phiên tòa sẽ phải chỉ định cho cậu”.

Điều này tôi thấy ấn tượng như một cuộc sắp xếp hoàn hảo mà những người tổ chức kiểu này nên xem xét chi tiết, và tôi nói ông cứ làm vậy. Ông gật đầu, và đồng ý rằng tất cả Điều khoản có thể được xem xét.

Ban đầu tôi không tiếp đón ông thực sự thoải mái. Căn phòng nơi ông phỏng vấn tôi quá giống một phòng khách bình thường, có các cửa sổ mắc rèm, và một chiếc đèn đơn đặt trên bàn. Ánh sáng của nó hắt xuống ghế tựa nơi ông để tôi ngồi, trong khi bản thân gương mặt ông lấp trong bóng tối.

Tôi đọc những mô tả các cảnh giống thế này trong nhiều cuốn sách, và lúc đầu tất cả dường như giống một trò chơi. Sau cuộc hội thoại của chúng tôi, tuy nhiên, tôi có một cái nhìn thiện cảm về ông. Ông là một người cao có hình hài gọn ghẽ, mắt xanh trời sâu, ria mép xám rậm, và tóc hầu hết đã trắng-tuyết, dày, và ông đem tới tôi một ấn tượng của thông minh vượt trội, và, tổng thể, đủ để có thể yêu mến. Chỉ có một điều có thể khác: Miệng của ông thỉnh thoảng lại mím hơi xấu xí; nhưng dường như chỉ là một kiểu chuyển động cơ mặt căng thẳng. Lúc rời đi, tôi đã gần như chìa tay và nói, “tạm biệt”, nhưng đúng lúc tôi nhớ ra tôi đã giết người.

Ngày hôm sau một luật sư đến phòng giam của tôi; một người đàn ông trông trẻ, hơi tròn, thấp người có mái tóc đen mượt sáng. Mặc dầu rất nóng – tôi mặc áo sơ mi dài tay – y đang mặc một áo comple sẫm màu, cổ cứng, cà vạt hơi trưng, có kẻ trắng đen chìm. Sau khi đặt những chiếc va-li của y lên giường tôi, y giới thiệu bản thân, và nói thêm y theo trường hợp của tôi với sự quan tâm hết thảy. Quan điểm của y là cần điều tiết cẩn trọng, nhưng có mọi triển vọng khiến tôi bất lợi, yêu cầu tôi phải theo lời khuyên của y. Tôi cảm ơn y, và y nói: “Tốt. Giờ chúng ta bắt tay thôi”.

Ngồi trên giường, y nói mọi người đã thực hiện thẩm tra đời tư của tôi. Họ biết mẹ tôi gần đây chết tại một Viện dưỡng lão. Mọi thủ tục đã được thực hiện tại Marengo và cảnh sát thông tin tôi đã biểu hiện như “kẻ bất tri khủng khiếp” tại đám tang của mẹ tôi.

“Cậu phải hiểu”, luật sư nói, “tôi không mừng gì đặt câu hỏi với cậu về một vấn đề như vậy. Nhưng nó có tầm quan trọng ghê gớm, và trừ khi tôi tìm vài cách trả lời liên quan tới “bất tri”. Tôi sẽ tìm mọi cách bảo vệ cậu. Và đó là cậu ở đâu,và chỉ cậu có thể giúp tôi”.

Y tiếp tục hỏi tôi có cảm thấy buồn khổ về “chuyện buồn” đó. Câu hỏi đập vào tôi như một điều lạ; tôi đã rất xấu hổ nếu tôi phải hỏi ai đó một điều giống như vậy.

Tôi đáp, những năm gần đây, tôi đánh mất thói quen điểm lại cảm giác của mình, và khó biết trả lời cái gì. Tôi có thể thật thà nói rằng tôi hoàn toàn yêu Mẹ – nhưng thực sự ý nghĩa đã không phải nhiều như vậy. Tất cả người bình thường, tôi thêm vào sau khi  nghĩ, có nhiều hay ít vẫn còn yêu sau cái chết của người thân, lúc này hay lúc khác.

Lúc ấy luật sư cắt ngang tôi, nhìn đầy lo lắng.

“Cậu phải hứa với tôi không nói điều gì kiểu như vậy tại phiên tòa, hoặc đối với Dự thẩm”.

Tôi hứa, để hài lòng y, nhưng tôi giải thích điều kiện con người của tôi  tại bất cứ thời điểm nào thường ảnh hưởng cảm xúc của tôi. Ví dụ, vào cái ngày tôi dự đám tang Mẹ, tôi đã kiệt sức và nửa tỉnh nửa mê. Bởi thế, thực là, tôi khó cảm nhận được chuyện gì đã đang xảy ra. Dẫu sao, tôi có thể đảm bảo với y một điều: Tôi giá như như mẹ tôi chưa chết.

Luật sư, tuy vậy, trông không hài lòng. “Đó chưa đủ”, y nói cộc lốc.

Sau khi băn khoăn một chút, y hỏi tôi đến ngày đó y có thể nói tôi đã để cảm xúc của mình dưới kiểm soát.

“Không” tôi đáp, “đó không phải là sự thật”.

Y nhìn tôi với vẻ kì quặc, tựa như tôi có làm phiền lòng y tí chút; sau đó thông báo cho tôi, với một tông giọng hoàn toàn cao vút, như viện dẫn có thế nào, thì ông giám đốc Viện dưỡng lão và một vài nhân viên sẽ có mặt làm chứng.

“Và có lẽ phải chăng cậu rất chi là trở nên nguy hiểm”, y kết luận.

Khi tôi khẳng dịnh cái chết của Mẹ không có một sự liên quan nào đến những căn cứ buộc tội chống lại tôi, y đơn thuần đáp lại dấu mốc này cho thấy tôi chưa hiểu gì luật pháp.

Sau chuyện đó y rời khỏi, trông hoàn toàn giận dữ. Tôi mong y ở lại lâu hơn và tôi có thể giải trình hòng có được sự cảm thông của y, không phải cho việc làm của  y tốt hơn khi bảo vệ tôi, mà, nếu tôi cũng có thể làm được điều đó, một cách đồng thời. Tôi có thể nhìn thấy tôi đã khiến y căng thẳng thần kinh; y không thể khiến tôi tự do, và, đủ tự nhiên điều này chọc giận y. Một hay hai lần tôi đã định trong đầu để nhắc y tôi chỉ giống như mọi người khác; một con người hoàn toàn bình thường. Nhưng thật sự điều đó đã phục vụ không cho một mục đích lớn nào cả, và tôi để nó qua – thoát khỏi sự lười biếng càng nhiều cái khác nữa.

Muộn cuối ngày, tôi được đưa tới văn phòng của Dự thẩm lần nữa. Đó là hai giờ chiều, và, lúc này, căn phòng tràn ngập ánh sáng – nơi chỉ có duy nhất một chiếc rèm mỏng trên cửa sổ – và nóng khủng khiếp.

Sau khi mời tồi ngồi xuống, vị dự thẩm thông báo cho tôi  bằng một giọng nói vô cùng lịch sự, “bởi vì mọi hoàn cảnh không thấy trước”, luật sư của tôi không thể có mặt. Tôi nên toàn quyền, y nói thêm, chưa trả lời câu hỏi của y cho tới khi luật sư cả tôi có thể có mặt.

Với điều này tôi đáp tôi có thể tự trả lời câu hỏi. Y nhấn một chiếc chuông trên bàn làm việc của y và một thư kí trẻ bước vào và ngồi xuống ngay phía sau tôi. Rồi chúng tôi – tôi và Dự thẩm – ngả lưng về sau, và cuộc hỏi cung bắt đầu. Y chỉ dẫn bằng cách nhấn mạnh tôi vốn rõ là một kẻ ít lời, hơn là một người coi mình là trung tâm, và y muốn biết tôi phải nói điều gì. Tôi trả lời:

“Ồ, tôi hiếm hoi lắm mới có nhiều điều để nói. Bởi thế, tự nhiên tôi ngậm miệng”.

Y mỉm cười y như lúc trước, và đồng ý cách tốt nhất của mọi lí do. “Trong mọi trường hợp”, y nói, “hoặc nói ít hoặc không quan trọng”.

Sau một lúc im lặng y đột nhiên bất ngờ chồm về phía trước, nhìn vào mắt tôi và nói, giọng của y có cao lên đôi chút:

“Điều tôi thực sự quan tâm là – cậu!”.

Tôi hoàn toàn không rõ y ý gì, vì vậy tôi không bình luận.

“Có một vài điều”, y tiếp tục, “đánh đố tôi về trường hợp phạm tội của cậu. Tôi cảm thấy chắc chắn cậu sẽ giúp tôi hiểu rõ”.

Khi tôi đáp thực sự hoàn toàn giản đơn, y yêu cầu tôi kể cho y, tôi đã làm những gì hôm đó. Như một vấn đề của thực tế, tôi đã kể cho y lần đầu tiên phỏng vấn giữa chúng tôi – nói gọn, tất nhiên – về Raymond, bãi biển, cuộc bơi của chúng tôi, ẩu đả và rồi lại bãi biển, tôi đã nhả đạn năm phát. Nhưng tôi nói sơ qua tất cả lần nữa, sau từng đoạn y gật đầu: “Hoàn toàn đúng vậy, hoàn toàn phải vậy”. Khi tôi mô tả cơ thể nằm trên cát, y gật đầu rõ mạnh thêm, và nói: “Tốt!”. Tôi mệt mỏi vì nhắc đi nhắc lại câu chuyện; Tôi cảm giác tôi chưa từng nói nhiều như thế trong cuộc đời mình kể từ trước tới giờ.

Lại một đợt im lặng khác y đứng dậy và nói y muốn giúp tôi; tôi quan tâm tới y, và, với sự giúp đỡ của Chúa, y sẽ làm gì đó cho rắc rối của tôi. Nhưng, trước tiên, y buộc phải đưa ra thêm một vài câu hỏi.

Y bắt đầu hỏi kiểu như tôi có yêu Mẹ mình.

“Có”, tôi đáp, “giống như mọi người khác”. Thư kí ngồi phía sau  tôi, đang gõ lại những lời khai với tốc độ đều đặn, chắc vừa mới gõ sai phím, lúc tôi nghe cậu ta nhấn phím quay lại và xóa đi.

Tiếp đến, không một liên hệ logic rõ ràng, vị dự thẩm đưa ra câu hỏi khác.

“Tại sao cậu bắn cả chuỗi năm phát?”

Tôi nghĩ một lát; sau đó giải thích đó không hoàn toàn là cả chuỗi liên hoàn. Tôi bắn một phát đầu tiên, và bốn phát tiếp theo sau khi ngừng một chút.

“Tại sao cậu ngừng lại giữa lần bắn đầu tiên và lần bắn thứ hai?”.

Tôi dường như thấy mọi thứ quay chậm lại trước mắt tôi, luồng đỏ của bãi biển, và cảm thấy hơi thở mạnh bên hai má tôi – và, lúc này, tôi không có câu trả lời.

 

Trong khoảng lặng tiếp theo, Dự thẩm giữ vẻ bồn chồn, cào ngón tay vào tóc, nửa nhổm đứng dậy, sau đó lại ngồi xuống. Cuối cùng, y chống khuỷu tay xuống bàn, y hướng hẳn về phía tôi với một biểu hiện kì quặc.

“Nhưng, tại sao, tại sao cậu nhằm bắn vào một người đã chết?”.

Lần nữa tôi không thể đáp lời.

Vị dự thẩm vẽ vẽ tay lên trán và nhắc lại nó trong một tông giọng khác hẳn nhẹ nhàng.

“Tôi hỏi cậu, tại sao?. Tôi năn nỉ cậu nói tôi nghe”. Tôi vẫn giữ im lặng.

Bỗng nhiên y đứng dậy, bước tới ô tủ đựng tài liệu phía tường đối dện, kéo mở ngăn kéo, lấy từ đó ra một tượng Chúa bằng bạc, y vẩy vẩy nó lúc  y trở lại bàn.

“Cậu có biết đây là ai không?”, giọng của y thay đổi hoàn toàn; cảm xúc tăng ghê gớm.

“Tất nhiên là tôi biết”, tôi đáp.

Điều đó dường như bắt đầu khiến y bất ngờ; y bắt đầu nói với quãng lớn y nói y tin vào Chúa, và thậm chí những kẻ phạm tội tồi tệ nhất có thể có được sự tha thứ của Ngài. Nhưng trước hết y phải hối tiếc, và trở nên giống như một đứa trẻ, có một trái tim tin cậy, giản đơn, mở lòng thú tội. Y dựa thẳng vào bàn, nguẩy nguẩy tượng Chúa trước mắt tôi.

Như một vấn đề của thực tế, tôi gặp một khó khăn ghê gớm để theo dõi những nhấn mạnh của y, như, bởi một điều, văn phòng quá nóng nực và ruồi nhặng đang ve vẩy xung quanh và đậu cả vào hai má tôi; cũng bởi vì, kể như y đánh thức tôi. Dĩ nhiên tôi nhận ra thật lạ lùng khi cảm giác giống như thế này, kiểu như là, sau tất thảy, chính tôi là tên phạm tội. Tuy nhiên, khi y tiếp tục nói, tôi cố gắng hiểu tốt nhất, và tôi tập trung rằng chỉ có một điểm trong mọi thú nhận của tôi tồi tệ đến mức cần phải làm sáng rõ vấn đề – thực tế tôi chờ trước khi nhấn cò lần hai. Tất cả còn lại là, để nói là, hoàn toàn đúng trật tự; nhưng điều đó làm y lẫn lộn hoàn toàn.

Tôi bắt đầu kể cho y là y đã nhầm khi khẳng định điều này, quan điểm là của sự quan trọng hoàn toàn bên trong. Nhưng trước khi tôi có thể nói ra mọi thứ,  y đã đứng thẳng người dậy và hỏi tôi với vẻ thực lòng liệu tôi có tin vào Chúa. Khi tôi nói, “không”, y thả lõng người xuống chiếc ghế của y bực bội.

Điều đó khó có thể nghĩ đến, y nói; tất cả mọi người đều tin vào Chúa, thậm chí với những người không yêu Ngài. Bởi vì điều này y hoàn toàn chắc chắn; nếu từng y nghi ngờ nó, cuộc đời y hẳn đã mất hết mọi ý nghĩa rồi. “Cậu  có hứa”, y hỏi rất khó chịu, “cuộc đời của tôi chẳng có ý nghĩa gì không?”. Thực ra, tôi không thể thấy được những lời hứa của tôi đã đến như thế nào, và tôi nói với y nhiều như vậy.

Khi tôi đang nói, y quệt tượng Chúa lần nữa dưới mũi tôi và quát to: “Tôi, dầu sao, cũng là một người Thiên Chúa Giáo. Và tôi cầu nguyện Ngài tha thứ cho những tội lỗi của cậu. Chàng trai trẻ tội nghiệp của tôi, thế nào mà cậu có thể không tin vào những tổn thương mà Ngài đang chịu cho cậu?”.

Tôi nhận ra con người y dường như hạnh phúc thuần khiết khi y nói: “Chàng trai trẻ khốn khổ của tôi” – nhưng tôi đang bắt đầu thấy đủ với nó rồi. Căn phòng ngày càng trở nên hầm hập rõ ràng hơn.

Lúc tôi thường làm khi tôi muốn thoát khỏi ai đó  mà câu chuyện của tôi làm tôi buồn tẻ, tôi giả vờ đồng ý. Lúc ấy hơn cả sự ngạc nhiên của tôi, gương mặt y sáng lên.

“Cậu thấy đấy! Cậu thấy chưa nào! Giờ đây cậu sẽ không tự mình khăng khăng rằng cậu không tin và đặt niềm tin của cậu vào Ngài nữa chứ?”.

Tôi phải lắc đầu tôi một lần nữa, y lại ngồi thụp xuống ghế của y, trông mệt mỏi và thất vọng.

Một lúc sau có một sự im lặng trong lúc người đánh máy, đã khua phím trong suốt thời gian chúng tôi nói chuyện, có được những đánh dấu cuối cùng. Sau đấy y nhìn tôi trống rỗng và buồn bã.

“Chưa từng  xảy ratrong tất cả kinh nghiệm của tôi mà tôi biết, có một tâm hồn rắn đá như của cậu”, y nói trong một âm vực thấp. “Tất cả những kẻ tội phạm những người tồi trước tôi cho tới lúc này đều khóc khi họ nhìn thấy biểu tượng tổn thương này từ Đứa chúa trời của chúng ta”.

Tôi đứng trên quan điểm trả lời chính xác là vậy, bởi vì họ những kẻ phạm tội. Nhưng sau đó tôi đã nhận ra rằng tôi, cũng như, giống như mô tả đó. Cho dù đã là một ý tưởng tôi chưa từng có thể được quen được.

Để chỉ ra, có thể tóm lại, là cuộc phỏng vấn đã kết thúc, Dự thẩm đứng dậy. Trong giọng nói yếu ớt như lúc trước, y hỏi tôi một câu hỏi cuối cùng: Tôi có hối tiếc về những gì tôi đã làm?

Sau khi nghĩ một chút, tôi đáp lại những gì tôi cảm thấy ít hối tiếc hơn là một kiểu giận dữ– tôi không thể tìm được một từ tốt hơn nó. Nhưng y đã dường như không hiểu… Đây là những điều đã vượt tầm cuộc phỏng vấn này hôm đó.

Tôi đến trước Dự thẩm nhiều lần hơn nữa, nhưng những dịp này luật sư của tôi luôn luôn đi cùng tôi. Các cuộc thẩm tra được giới hạn bằng việc hỏi tôi nhằm bổ sung những lời khai của tôi trước đó. Hoặc là Dự thẩm và luật sư của tôi bàn bạc cách thức. Cứ mỗi lần họ để ý rất ít đến tôi, và, trong bất cứ trường hợp nào, cung bậc của những cuộc thẩm tra đã thay đổi khi thời gian dần trôi. Vị dự thẩm dường như đã quên hẳn quan tâm tới tôi, và đã đi đến quyết định – kiểu –như-rõ ràng về trường hợp của tôi. Y không thèm lưu ý tới Chúa một lần nào nữa hoặc biểu hiện bất cứ cơn sốt tôn giáo nào như tôi đã thấy quá xấu hổ tại cuộc thẩm vấn đầu tiên. Kết quả là mối quan hệ của chúng tôi trở nên thân thiện hơn. Sau một vài câu hỏi, luật sư có nhận xét sau đó, Dự thẩm kết thúc tra hỏi. Trường hợp của tôi là “tiếp tục ra tòa thôi”, như y thế làm. Thỉnh thoảng, cũng vẫn vậy, cuộc hội thoại theo một trật tự chung , và vị dự thẩm cùng luật sư khuyến khích tôi hợp tác với họ. Tôi bắt đầu thở tự do hơn. Không ai trong hai người đàn ông, ở những lúc này, chỉ cho thấy trách nhiệm tối thiểu đối với tôi, và mọi thứ trở nên quá dễ dàng, quá kì lạ, khiến tôi có một ấn tượng kì quặc kiểu “trong một gia đình”. Tôi trung thực có thể nói rằng trong suốt 11 tháng  thẩm vấn này kéo dài tôi đã quá quen với họ làm tôi hầu như ngạc nhiên đến mức vui mừng tốt hơn cả những khoảnh khắc hiếm hoi đó, khi Dự thẩm sau khi tống tiễn tôi tới cửa của văn phòng, đã đập vào vai tôi và nói kiểu như bạn bè. “Ồ, anh chống Chúa đó là tất cả cho lúc này!”. Sau đó tôi trở lại với các cai tù của tôi.

(Hết chương I, phần II)

(*) Chương đầu tiên của phần II, Camus viết khá hiền, chưa bộc lộc được đúng những quan sát tinh tế, chậm rãi, đầy tính nhân văn của tác giả. Nhưng Camus đi vào chiều sâu hơn của nhân vật. Cái chiều sâu tính cách, nhìn được hai thái cực của con người. Một sự bình thản thấy sự việc giết người là phải diễn ra như thế –  thật bình thường – một sự việc tại chỗ; và một sự ép buộc của Dự thẩm (người điều tra trước khi vụ việc ra tòa) như muốn lí giải thật rõ từng động thái của kẻ cầm súng, động cơ tại sao giết người. Hai thái cực rõ ràng, rành mạch.

 

Người lạ (tiếp theo 16)

albert-camus_1965-12-23.gif

Minh họa Camus nhân điểm sách ông trên The New York Times. Nguồn ảnh: Internet.

NGƯỜI LẠ

Albert Camus

Dựa theo bản dịch tiếng Anh từ tiếng Pháp của Stuart Gilbert (N.H.T chuyển ngữ (*)/Phần 1/Tiếp)

>> Phần trước

VI

THẬT là một sự cố gắng thức dậy sáng Chủ nhật đó; Marie đã huých vào vai tôi và gào tên tôi. Khi chúng tôi muốn đi bơi sớm, chúng tôi không quan tâm ăn sáng. Đầu tôi đau nhẹ và điếu thuốc đầu tiên của tôi có vị đắng. Marie bảo tôi giống như một tay dự đám tang trong một nhà tang lễ, và tôi chắc chắn cảm nhận rất mơ hồ. Nàng diện một chiếc váy trắng và để thả tóc. Tôi nói nàng trông hoàn toàn yêu kiều, và nàng cười hạnh phúc.

Trên đường chúng tôi đi ra ngoài chúng tôi gõ cửa phòng của Raymond, và anh ta gào lên rằng anh ta sẽ đi cùng chúng tôi ngay. Chúng tôi xuống phố, cũng bởi dưới mọi điều kiện thời tiết nào và chúng tôi để căn phòng tối um, tia nắng đầu tiên của buổi sáng đập vào mặt tôi giống như một cú đánh tổng lực.

Marie, tuy nhiên, hầu như nhảy nhót với ánh sáng, và thường nhắc đi nhắc lại, “Ngày hôm nay thiên đường vậy sao!”. Sau một vài phút tôi cảm thấy tốt hơn, và nhận ra tôi đang đói. Tôi nói với Marie, nhưng nàng chẳng quan tâm. Nàng đang mang một chiếc túi chứa đồ bơi trong đó nàng chất bộ đồ tắm và một chiếc khăn tắm. Lúc này chúng tôi nghe tiếng Raymond đóng cửa phòng. Anh ta mặc một chiếc quần màu xanh trứng sáo, một chiếc áo sơ mi trắng ngắn tay, và một chiếc mũ rơm. Tôi thấy tay anh ta khá nhiều lông, nhưng làn da phía dưới thì rất trắng. Anh ta dường như tinh thần rất thoải mái và đang huýt sáo khi bước xuống cầu thang bộ. Anh ta chào tôi, “chào cậu bé già!” và gọi Marie là “Quý cô”.

Đêm trước chúng tôi tới sở cảnh sát, nơi tôi làm chứng giúp Raymond – về việc cô gái đã đổ lỗi cho anh ta. Vì thế họ để anh ta đi mà không cảnh báo gì. Họ không kiểm chứng những lời tôi nói.

Sau khi nói chuyện vài câu trên bậc thềm chúng tôi quyết định bắt xe buýt. Bãi biển nhìn từ xa dễ dàng tìm lối đi bên trong, chúng tôi dấn nhanh là sẽ tới.  Chỉ khi chúng tôi bắt đầu tại trạm dừng xe buýt, Raymond giật ống tay áo tôi và bảo tôi nhìn ra phố. Tôi nhìn thấy một vài người A rập dựa lưng vào cửa sổ của cửa hàng thuốc lá. Họ đang nhìn trừng trừng vào chúng tôi, yên lặng, theo cách đặc biệt mà lũ người này biểu hiện – như chúng tôi là đá tảng hay cây khô. Raymond thì thầm rằng tên A rập thứ hai phía  bên trái là “gã đàn ông của anh ta”, và tôi nghĩ Raymond khá lo lắng. Tuy nhiên, tất cả là chuyện cũ rồi. Marie, không biết anh ta nói gì, hỏi tôi, “Chuyện gì vậy?”.

Tôi giải thích rằng những người A rập kia đang có vài chuyện thắc mắc với Raymond. Nàng khăng khăng chúng ta phải đi ngay. Sau đó Raymond phá lên cười, và dựng vai. Quý cô trẻ hoàn toàn đúng, anh ta nói. Chả có chuyện gì sất ở đây. Nửa đoạn nữa tới trạm dừng xe buýt anh ta liếc qua vai về phía sau và nói những người A rập đã không theo dõi nữa. Tôi, cũng, quay lại. Họ vẫn y ở chỗ cũ như trước, nhìn theo cách mơ hồ giống vậy nơi mà chúng tôi bước qua.

Khi chúng tôi bước lên xe buýt, Raymond, lúc này dường như đã hoàn toàn thoải mái, đã đùa cợt trêu chọc Marie. Tôi có thể nhìn thấy anh ta bị nàng thu hút, nhưng nàng hiếm lắm mới nói một lời. Thỉnh thoảng nàng đưa mắt về phía tôi và mỉm cười.

Chúng tôi vừa chạm Algiers. Bãi biển không xa trạm xe buýt lắm; chỉ có một ngã tư xuyên qua vùng đất cao, kiểu đất bình nguyên, có thể nhìn xa ra biển và bờ dốc xuống phía bãi cát. Mặt đất ở đây được bao bọc bởi đá cuội vàng và huệ trắng khoe màu trắng-tuyết chọi lại xanh của trời, gần như ánh sáng cứng cỏi, nặng chỉ có được trong những ngày rất nóng. Marie tự đùa vui bằng lẳng chiếc túi nàng đeo tới những bông hoa và rải cánh hoa trên khắp lối. Sau đó chúng tôi đi dạo giữa hai hàng nhà nhỏ có những chiếc ban-công bằng gỗ, tường trắng hoặc xanh lá. Nhiều căn nhà bị che khuất một nửa bởi cụm cây thánh liễu; những cái khác lại trơ trọi giữa bình nguyên đá. Trước khi chúng tôi đến nơi, biển trong tầm nhìn; biển lặng như một tấm gương soi, và trông từ xa giống ảnh của đất đen một vùng phản chiếu. Mặc dầu không vẫn còn lẫn tiếng động cơ xe máy và chúng tôi nhìn thấy một chiếc thuyền đánh cá phía xa, dần dần hiện ra từ đám mượt mà quyến rũ.

Marie ngắt vài bông diên vĩ đá. Xuống lối đường dốc dẫn ra biển, chúng tôi đã nhìn thấy một vài người tắm đứng trên bãi cát.

Bạn của Raymond sở hữu một căn nhà bằng gỗ nhỏ gần cuối bãi biển. Lưng nhà tựa vào vách đá, trong khi phía trước chồng lên, mép nước sát gần. Raymond giới thiệu chúng tôi với bạn anh ta, tên  chồng là Masson. Anh ấy cao, vai nhỏ, mình dày; vợ anh ấy là một người phụ nữ nhỏ bé vui vẻ, đẫy đà nói giọng Paris.

Masson nhanh nhẩu bảo chúng tôi hãy coi như nhà của mình. Anh ấy ra ngoài câu cá, anh ấy bảo, điều đầu tiên vào buổi sáng, và sẽ là món cá nướng cho bữa trưa. Tôi chúc mừng anh ấy về căn nhà nhỏ của anh ấy, và anh ta nói lúc nào cũng nghỉ cuối tuần và mọi kì nghỉ ở đây. “Với vợ tôi đây, chẳng phải nói nhiều”, anh ấy chào. Tôi liếc nhìn cô ấy, và nhận ra cô ấy cùng Marie đã như quen thân với nhau; cùng cười to cùng trò chuyện xa dần. Với lần đầu tiên, có lẽ, tôi thực sự nghiêm túc nghĩ đến khả năng cưới nàng.

Masson muốn đi bơi ngay lập tức, nhưng vợ anh ấy và Raymond chưa sẵn sàng đi. Chỉ có ba chúng tôi, Marie, Masson, và tôi, xuống biển. Marie nhanh chóng ngập mình xuống nước, nhưng Masson và tôi chờ một chút. Anh ấy rề rà nói chuyện và tôi nhận ra thói quen nói “và cái gì nữa nhỉ” giữa những câu nói của anh ấy – thậm chí khi câu thứ hai không thực sự tiếp nối câu đầu. Nói về Marie, anh ấy bảo: “Cô nàng là một cô gái xinh xắn khủng khiếp, và gì nữa nhỉ, quyến rũ”.

Nhưng tôi nhanh chóng ngừng chú ý tới mẹo vặt của anh ấy; tôi đang đắm mình trong ánh mặt trời, ở đây, tôi thấy, đang khiến tôi cảm giác tốt hơn nhiều. Cát đang bắt đầu nóng dần dưới lòng bàn chân và, tôi mong muốn ngâm mình xuống, tôi dừng thêm một hay hai phút. Cuối cùng tôi nói với Masson: “Chúng ta xuống nước thôi chứ?” và ngập người. Masson bước cẩn trọng và chỉ bắt đầu bơi khi nước quá đầu. Anh ấy bơi tay tiếp tay và lắc đầu chậm rãi, vì thế tôi bỏ anh ấy phía sau và bắt kịp Marie. Nước lạnh và tôi cảm thấy tất cả tốt hơn vì điều này. Chúng tôi bơi một khoảng xa, Marie và tôi, vai sát vai, và cảm giác vui vẻ mỗi cử động của chúng tôi hòa hợp thế nào, cơ thể cô ấy và cơ thể tôi, cả hai chúng tôi cùng một tâm trạng, hưởng thụ mọi khoảnh khắc.

Lúc chúng tôi nghỉ, chúng tôi nằm ngửa, tôi liếc lên bầu trời, tôi có thể cảm nhận được mặt trời vẽ lên một bộ phim của nước muối trên môi và má tôi. Chúng tôi nhìn thấy Masson bơi trở lại bờ và vùi mình xuống cát dưới mặt trời. Nhìn từ xa, anh ấy trông to bé, giống như một con cá voi khổng lồ. Sau đó Marie đề nghị chúng tôi nên bơi đôi. Nàng bơi trước và tôi vòng tay quanh eo nàng, từ phía sau, và trong lúc nàng kéo tôi về trước bằng tay sải, tôi sẽ đẩy nhẹ phía sau để trợ sức cho cả hai.

Tiếng động khỏa nước bên tai tôi lâu tới mức tôi cảm thấy tôi đã bơi đủ rồi. Vì vậy tôi để Marie và bơi ngược lại dễ dàng hơn, nhịp thở sâu và dai hơn. Khi tôi chạm bờ tôi ấn bụng mình sấp xuống cạnh Masson, để mặt nghỉ ngơi úp xuống cát. Tôi nói anh ấy “thật tuyệt” ở đây, và anh ấy đồng ý. Lúc này Marie trở lại. Tôi nhấc đầu mình lên để nhìn nàng tiến lại gần. Người nàng lấp lánh nước biển và nàng vuốt tóc ra phía sau. Rồi nàng nằm xuống bên cạnh tôi, và cùng kết hợp sức nóng của cơ thể hai chúng tôi và mặt trời, tôi thấy tự mình rơi vào cơn buồn ngủ.

Lát sau Marie ngoắc tay tôi và nói Masson đã trở lại nhà; chắc là đã gần tới bữa trưa. Tôi bật dậy ngay, khi cảm giác tôi đang đói, nhưng Marie nói với, tôi chưa hôn nàng một lần từ sáng sớm. Có vậy hả – tôi muốn chứ, và hôn vài lần. “Chúng ta trở lại nước lần nữa đi”, nàng nói, và chúng tôi chạy xuống biển và nằm nổi dập dềnh cùng những ngọn sóng nhỏ một lát. Sau đó chúng tôi bơi sải một chút, và chúng tôi chìm lút đầu, nàng choàng cả người dùng hai tay ôm tôi. Tôi cảm giác hai chân nàng mơn trớn tôi, và mọi cảm nhận trên làn da.

Khi chúng tôi trở lại, Masson đang ở bậc thềm của nhà, quát gọi chúng tôi. Tôi bảo anh ấy tôi đói mềm rồi, anh ấy quay về phía vợ và nói anh ấy đã hoàn toàn chuẩn bị cho tôi. Bánh mì thật ngon, tôi còn được chia suất cá đầy. Tiếp đó là món bít-tết bò và khoai tây rán. Không ai trong chúng tôi nói khi ăn. Masson uống nhiều rượu vang và liên tục đổ đầy cốc của tôi mỗi khi cạn. Đúng giờ cà phê được đem đến tôi đang cảm thấy ngà ngà say, và tôi bắt đầu hút hết điếu này sang điếu khác. Masson, Raymond, và tôi bàn thảo một kế hoạch sẽ dành cả tháng Tám trên bờ biển cùng nhau, có chia sẻ tài chính.

Bỗng nhiên Marie thốt lên: “Em nói là, anh biết thời gian chứ? Mới chỉ đến mười một rưỡi!”.

Tất cả chúng tôi ngạc nhiên về điều ấy, và Masson ghi nhận chúng tôi đã ăn bữa trưa quá sớm, nhưng thực sự bữa trưa là một bữa tiệc cơ động, bạn ăn khi cảm thấy đói.

Điều này làm Marie cười phá, tôi không hiểu tại sao. Tôi ngờ nàng say xỉn rồi.

Sau đấy Mason hỏi tôi muốn đi cùng anh ấy làm một chuyến dạo biển.

“Vợ tôi luôn luôn ngủ trưa sau bữa ăn”, anh ấy bảo. “Cá nhân tôi lại khác; cái tôi cần là một bữa tản bộ ngắn. Tôi thường bảo với vợ điều này tốt cho sức khỏe hơn. Nhưng, tất nhiên, cô ấy giữa ý kiến riêng của cô ấy”.

Marie đề nghị nghỉ và giúp dọn dẹp. Vợ của Masson mỉm cười và đáp, trong trường hợp này, điều đầu tiên là để đàn ông đi theo con đường của họ. Bởi chúng ta có con đường của riêng ta, ba chúng ta.

Ánh sáng hầu như chiếu thẳng đứng và tia nắng từ mặt nước hất vào mắt từng người. Bãi biển hoàn toàn vắng người lúc này. Chỉ còn nghe tiếng lách cách dao dĩa và đĩa từ quán ăn và căn nhà quanh bờ biển. Khí nóng phả ra từ những vách đá và làm không khí thật khó thở.

Đầu tiên Raymond và Masson nói về vài điều và vài con người mà tôi không rõ.Tôi hiểu họ đã quen nhau vài lần và thậm chí sống cùng nhau. Chúng tôi đi tới mép nước và đi bộ dọc nó; thỉnh thoảng sóng chờm lên làm ướt giày vải bạt của chúng tôi. Tôi đã không nghĩ gì, khi tất cả ánh sáng mặt trời rọi thẳng xuống đầu trần của tôi, tôi thấy mình nửa mơ màng buồn ngủ.

Chỉ khi Raymond nói điều gì đó với Masson mà tôi hoàn toàn không nắm được. Nhưng cùng khoảnh khắc ấy tôi nhận ra hai người A rập mặc chiếc áo liền quần màu xanh đi xuống bãi biển, đi cùng hướng với chúng tôi. Tôi nhìn về phía Raymond và anh ta gật đầu, nói, “Đúng là hắn ta đấy”. Chúng tôi dạo những bước chân đều đặn, chắc chắn. Masson băn khoăn không hiểu sao lũ người đó lại có thể theo dõi chúng tôi tới tận đây. Ấn tượng của tôi là họ đã nhìn thấy chúng tôi từ trên xe buýt và nhận ra chiếc túi chống nước của Marie; nhưng tôi đã không nói gì.

Mặc dầu lũ người A rập đi rất chậm chạp, chúng càng ngày càng gần hơn. Chúng tôi không thay đổi bước chân của mình, nhưng Raymond nói:

“Nghe này! Nếu xảy ra đánh nhau, cậu, Masson, chú ý thằng thứ hai. Tớ sẽ giải quyết thằng bạn ngay phía sau tớ. Và cậu, Meursault, đứng đây yểm trợ nếu như có ai đó tiến lên, và hạ thẳng nó xuống”.

Tôi đáp: “Được thôi”, và Masson thọc hai tay vào trong túi.

Cát nóng như lửa, và tôi có thể cảm nhận được nó dần dần đỏ lên. Khoảng cách giữa bọn tôi và lũ người A rập ngày một giảm dần. Khi chúng tôi chỉ còn cách lũ người A rập vài bước cứng. Masson và tôi chầm chậm cúi, trong khi Raymond vẫn đứng thẳng. Tôi không thể nghe anh ta nói gì, nhưng tôi nhìn thấy anh ta cúi đầu và tránh cú tọng vào má. Raymond tung cú đá và quát gọi Masson tới. Masson đến bên người đàn ông mà anh ta vừa chỉ và đập thằng cha đó với hai lần liền bằng toàn bộ sức mạnh của anh ấy. Hắn rơi ngang xuống nước và nằm đó trong vài giây cùng với bong bóng nổi trên bề mặt xung quanh đầu. Trong khi Raymond thì mải tấn công gã đàn ông khác, tên này mặt cũng đầy máu. Anh ta liếc nhìn tôi qua vai và gào lên:

“Cậu chú ý! Tớ chưa hạ xong thằng này đâu!”.

“Cẩn thận!”, tôi gào lên, “Nó có dao”.

Tôi nói quá muộn. Gã đã rạch một đường lên cánh tay cũng như miệng của Raymond.

Masson nhảy chồm lên phía trước. Tên A rập khác bò từ nước lên và thế tên đồng bọn đang cầm dao. Chúng tôi đã không dám chuyển động. Hai tên yểm trợ phía sau cũng từ từ lùi xa, để chúng tôi ở lại vịnh cùng con dao và không dám rời mắt khỏi chúng tôi. Khi chúng đã đủ xa một khoảng cách an toàn chúng nhón chân và vọt nhanh. Chúng tôi vẫn đứng đó chết lặng, với ánh mặt trời chói thẳng xuống chúng tôi. Máu đang rỏ từng giọt từ cánh tay bị thương của Raymond, anh ta đang khó khăn để quặp cùi trỏ lại.

Masson cho biết có một bác sĩ anh ta thường có mặt hàng Chủ nhật ở đây, và Raymond nói: “Tốt. Để chúng ta cùng gặp ông ta ngay”. Anh ta khó lắm mới cất lên lời, và máu từ những vết thương khác cũng đang nổi bọt lên quanh miệng.

Từng người trong chúng tôi dìu tay anh ta và giúp anh ta trở lại ngôi nhà. Khi chúng tôi đã ở đó anh ta nói chúng tôi vết thương cũng không quá sâu và anh ta có thể tự mình đi bộ tới gặp bác sĩ. Marie hoàn toàn trông tái dại, và vợ Masson thì đang ngập nước mắt.

Masson và Raymond cùng đi tới nhà bác sĩ trong khi tôi ở lại phía sau tại căn nhà để giải thích vấn đề cho những người phụ nữ. Tôi chẳng thích nhiệm vụ tí nào và ngay chóng lau khô và bắt đầu rít thuốc, nhìn đăm đăm về phía biển.

Raymond trở lại nhà sau nửa giờ, cùng với Masson. Cánh tay anh ta đã băng bó và một miếng băng dán ngay góc miệng. Bác sĩ khẳng định anh ta không bị thương nghiêm trọng, nhưng trông anh ta xám ngoét. Masson cố gắng chọc anh ta cười, nhưng không nổi.

Hiện tại Raymond nói anh ta muốn đi dạo dọc biển. Tôi hỏi anh ta muốn đi đâu, anh ta lầm bầm “muốn hít thở không khí”. Chúng tôi- Masson và tôi- sau đó bảo chúng tôi đi cùng anh ta, nhưng anh ta trở nên giận dữ và bảo chúng tôi đi làm công việc của chúng tôi đi. Masson nói chúng không phải năn nỉ, xem tình trạng của anh ta kìa. Tuy nhiên, khi anh ta ra ngoài, tôi đi theo.

Bên ngoài rất nóng, ánh sáng mặt trời tóe ra thành những bông lửa trên cát và trên mặt biển. Chúng tôi đi bộ một lát, và tôi có một ý tưởng hỏi Raymond thực sự muốn đi đâu; nhưng có lẽ tôi đã mắc sai lầm.

Cuối bãi chúng tôi gặp một dòng suối nhỏ cắt ngang một con kênh trên mặt cát, sau khi chui ra từ phía sau của một tảng đá lớn. Chúng tôi tìm thấy hai tên A rập một lần nữa, đang nằm trên cát với bộ quần áo liền quần màu xanh. Chúng hoàn toàn không đáng ngại, thậm chí cũng không thấy đe dọa chút ghê gớm nào, và cả hai chúng đều không cử động khi chúng tôi tiến tới. Gã đàn ông đã tấn công Raymond nhìn trừng trừng vào anh ta mà không nói gì. Gã kia huýt sáo một điệu nhạc chỉ gồm có ba nốt và gã ta cứ huýt đi huýt lại, trong khi gã theo dõi chúng tôi bằng nửa con mắt.

Một giây không ai cử động; trời vẫn cứ nắng và lặng im trừ tiếng nước suối reo và ba nốt nhạc đơn lẻ nhảy nhót. Sau đó Raymond đút tay vào túi quần chạm vào khẩu súng ngắn ổ xoay, nhưng lũ người A rập vẫn chưa tiến. Tôi nhận ra gã đàn ông huýt nhạc có hai ngón chân cái to đùng hầu như ngoạc hẳn ra so với bàn chân.

Vẫn để mắt tới gã đàn ông của mình, Raymond nói với tôi: “Tớ có nên cho hắn phát đạn?”.

Tôi nghĩ nhanh. Nếu như tôi bảo với anh ta đừng, so với tình trạng mà anh ta đang gặp phải, anh ta có lẽ sẽ rơi vào trạng thái tinh thần và bắt đầu sử dụng súng. Bởi thế tôi nói điều đầu tiên xuất hiện trong đầu tôi.

“Nó chưa nói gì với cậu cả. Thật thất sách khi bắn nó trong lúc này, lạnh lùng quá”.

Lần nữa, trong một vài khoảnh khắc không ai nghe thấy tiếng gì ngoài tiếng nước suối và nhạc huýt sáo đan cài trong không khí nóng nực, đình trệ.

“Ồ”, Raymond cuối cùng nói, “đó là cậu thấy vậy, tốt hơn là tớ nói về kết quả nhé, và nếu nó trả lời tớ sẽ nhấn cò”.

“Được”, tôi đáp. “Nếu nó không buông dao ra thì cậu có việc phải nổ súng đâu”.

Raymond bắt đầu tiến bước. Gã A rập đang huýt sáo tiếp tục bập môi, và cả gã đều dõi theo những chuyển động của tất cả chúng tôi.

“Nghe này”, tôi nói với Raymond. “Cậu chiến thằng bên phải, và đưa tớ khẩu súng của cậu. Nếu thằng kia giở trò hoặc rút dao, tớ sẽ bắn”.

Mặt trời lóe lên khẩu súng ngắn của Raymond lúc anh ta đưa nó vào tay tôi. Nhưng chưa gã nào cử động cả; mọi thứ chờ cả vào chúng tôi và chúng tôi cũng không thể cử động. Chúng tôi chỉ có thể dõi theo nhau, không rời mắt; thế giới dường như tất cả trở nên đông cứng trên dải cát bé nhỏ này giữa ánh nắng mặt trời và biển cả, hai bờ im lặng giữa tiếng huýt sáo và tiếng suối reo. Rồi lóe lên trong đầu tôi có lẽ nhấn cò, có lẽ không  – điều này hầu như đến cùng một lúc.

Sau đấy, tất cả thật đột ngột, lũ người A rập biến mất; chúng trượt đi giống như lũ tắc kè dưới sâu vách đá. Vì vậy Raymond và tôi quay về và đi bộ ngược trở lại. Anh ta dường như vui vẻ hơn, và bắt đầu nói chuyện về chuyến xe buýt chúng tôi sẽ bắt để trở về.

Khi chúng tôi về tới căn nhà Raymond đi lên bằng bậc thang gỗ, nhưng tôi vẫn dừng lại ở bậc cuối cùng. Ánh chớp dường như chạy qua đầu tôi và tôi không thể nào cố gắng thêm để bước lên từng bậc cầu thang, tôi yếu mềm như những người phụ nữ. Nhưng sức nóng tuyệt diệu tới mức điều tồi tệ chỉ dừng lại đúng chỗ tôi đang đứng, dưới ánh sáng từ phía bầu trời đang rỏ xuống. Ở đây, hay chuyển động – điều nào cũng đúng cả. Sau một khoảnh khắc tôi trở lại bãi biển, và bắt đầu thả bộ.

Xuất hiện một luồng đỏ giống mà mắt có thể chạm tới, những lọn sóng nhỏ liếm trên cát nóng từng chút một, dập dềnh ồn ã. Lúc tôi bước chầm chậm tới vách đá lớn phía cuối bãi biển tôi có thể cảm thấy thái dương tôi phồng lên dưới ảnh hưởng của ánh nắng. Nó ảnh hưởng trực tiếp tới tôi, cố gắng để kiểm soát tiến trình của mình. Và mỗi khi tôi cảm thấy có một cú nóng mạnh trực diện vào trán, tôi nghiến răng, nắm chặt nắm tay mình trong túi quần và kìm nén mọi nơ-ron dịu lại mặt trời và bóng tối xoa dịu trùm lấp tôi. Mỗi khi một lưỡi dao ánh sáng chói lọi trùm lên vỏ ốc hay những mảnh kính vỡ trên mặt cát, hai hàm tôi cứng lại. Tôi không thể nào bị đánh bại, tôi thả những bước chân chắc nịch trên đường.

Một hòn đá tảng đen nhỏ dọc lối đi trên bãi biển. Nó bị chặn lại bởi ánh sáng lấp lánh và tia ánh lông thú, nhưng tôi đang nghĩ về dòng nước suối sạch, mát lạnh phía sau, và đắm chìm một lần nữa lắng nghe tiếng nước chảy. Mọi thứ thoát khỏi ánh nhìn, những người phụ nữ đang đầm đìa nước mắt, cố gắng và vượt cạn – và để trở lại bể bóng râm của vách đá và sự im lặng mát rượi của nó!

Nhưng khi đến gần hơn tôi thấy lũ người A rập của Raymond đã trở lại. Chỉ có một mình hắn lúc này, nằm ngửa, và hắn gối đầu trên tay, gương mặt được che mát bằng tảng đá trong khi mặt trời chiếu thẳng vào toàn bộ cơ thể gã. Có thể nhìn thấy bộ quần áo liền quần của gã đã phập phồng dưới cái nóng. Tôi hơi lùi lại; ấn tượng của tôi có thể là một bằng chứng tôi quá gần hắn, và tôi thậm chí không có một ý nghĩ nào tôi đang ở đâu.

Nhìn thấy tôi, gã A rập nhấc người lên một chút, rút tay ra khỏi túi quần. Rất tự nhiên, tôi rút khẩu súng ngắn của Raymond trong túi áo khoác của tôi. Sau đó gã A rập ngâm mình trở lại, tay đút trong túi quần. Tôi vẫn còn cách một quãng, ít nhất đến mười bộ, hầu như mọi lúc tôi nhìn thấy gã ta giống như một bóng tối phủ mờ phập phồng trong tia sáng nóng. Thỉnh thoảng, tuy nhiên, tôi liếc mắt về phía gã nơi đã nheo nheo nửa nhắm nửa mở. Tiếng sóng thậm chí nghe lười biếng hơn, rộn hơn vào đúng ngọ. Nhưng ánh sáng đã không thay đổi; nó đang ngập tràn hoang dại khắp, trải dài dọc cát và kết thúc ở những vỉa đá. Trong hai giờ đồng hồ mặt trời dường như không biến đổi; bình tĩnh trên biển của phẳng thép hòa tan. Xa phía chân trời một cụm mây vừa trôi; tôi có thể tạo ra một miếng băng đen đang di chuyển nhỏ bé bên mắt, trong khi tôi vẫn tập trung theo dõi gã A rập.

Thời tiết bẫy tôi và tất cả tôi phải làm là quay về, bước đi thôi, và đừng nghĩ về nó nữa. Nhưng toàn bộ bãi biển, nóng ngập tràn, nó đang rải trên lưng tôi. Tôi bước thêm vài bước về phía dòng suối. Gã A rập không cử động. Sau tất cả, vẫn còn một khoảng cách giữa hai chúng tôi. Có lẽ bởi vì bóng tối của gương mặt gã, gã dường như đang lẩm nhẩm gì đó với tôi.

Tôi chờ đợi. Sức nóng bắt đầu rọi vào hai má tôi; giọt mồ hôi tập trung vào phía lông mày tôi. Giống hệt như kiểu sức nóng tại đám tang của mẹ, và tôi có một tinh thần bất đồng ý kiến tương tự – đặc biệt trên trán tôi, nơi tất cả những mạch máu dường như đang tập trung dưới làn da. Tôi không thể nào đứng được thêm nữa, cần phải bước lên phía trước. Tôi biết đó là một điều ngốc nghếch; tôi không thể nào thoát khỏi mặt trời bằng việc bước đi một hay hai bộ. Nhưng tôi đã bước bước chân chân, chỉ đúng một bước, lên phía trước. Và sau đó gã A rập rút dao và giơ nó trước mặt tôi, xuyên qua ánh sáng mặt trời.

Một tia sáng lóe lên từ ánh thép, và tôi cảm thấy lưỡi dao nhỏ dài đó dường như đã đâm thẳng vào đầu tôi. Cùng lúc tất cả mồ hôi chụm trên lông mày tôi tràn xuống mi mắt, bọc chúng bằng tất cả loạt sương mù ấm. Dưới tấm màn đó cộng với nước mắt khiến tôi như bị mù; tôi chỉ tỉnh táo bởi tiếng xanh-ban của mặt trời đang gõ vào sọ não tôi, và , ít phân biệt hơn, lưới sáng lóe đó từ con dao, tạo sẹo trên mi mắt tôi, và chọc thẳng vào đồng tử tôi.

Mọi thứ bắt đầu hoa trước mắt tôi, sức nóng khủng khiếp dồn lên từ biển, trong khi bầu trời bị xé ra làm hai, cuối đến kết thúc, và một tấm chăn tuyệt vời cũng trùm xuống xé đôi. Mọi dây thần kinh trong cơ thể tôi đang đóng cứng lại, tôi nhấn cò khẩu súng ngắn. Viên đạn bắn ra, vết ngọt dưới bụng nảy ra từ lòng bàn tay của tôi. Và bởi thế, tiếng động tách của cú bắn giống như tiếng của miếng khoai tây rán, mọi thứ bắt đầu. Tôi vẩy hết mồ hoi và bám vào tấm màn của ánh sáng. Tôi biết tôi đã phá hủy cân bằng của ngày, bình tĩnh không gian của bãi biển này nơi tôi đã và đang vô cùng hạnh phúc. Nhưng tôi bắn thêm bốn phát nữa vào cơ thể đã chết, trên đó chúng không để lại bất cứ dấu vết hình hài nào. Và từng cú bắn thành công và một tiếng động khác, nhịp rap định mệnh trên cánh cửa xuống dốc của tôi.

(Hết chương VI, phần I)

(Còn nữa)

(*) Đọc Camus đòi hỏi một sự kiên nhẫn, bình tâm. Chuyển ngữ Camus cần phải kiên nhẫn, bình tâm, suy xét gấp hai, gấp nhiều lần. Bản thân tôi không phải là người kiên nhẫn cho lắm, nhưng đọc tới Camus, “gặp” được Camus như một sự vinh hạnh. Và tôi cảm thấy kiên tâm hơn khi bắt đầu chuyển ngữ từng dòng của ông sang tiếng Việt. Xin các bậc cao nhân về Camus chỉ giáo để thực sự hiểu rõ hơn về Camus.