Rơi

16e99d63531d9bf319fd6255e28bffb5Cái tinh thần của mình đang rơi không trọng lượng. Rơi một cách chơi vơi và đang rơi xuống tới đáy. Là bởi sắp sửa cuối năm. Là bởi không hài lòng với con cái. Là bởi đủ các thứ hằm bà rằng không thể gọi thành tên đến lúc này?!

Chỉ biết rằng tinh thần mình đang rơi.

Mình đã cố cứu vớt nó bằng những cuốn sách. Trong vài ngày đã xong hai cuốn. Một cuốn là “Good Luck” (Bí mật của may mắn), cuốn thứ hai là “Living Foward” (Bản kế hoạch thay đổi định mệnh). Tất cả đều là bản dịch tiếng Việt. Đọc với niềm thiết tha sẽ cứu vớt để cho trạng thái rơi chững lại. Nhưng hình như vẫn không nổi!

Hay cứ để nó tiếp tục rơi nhỉ?! Rơi chạm tới đáy xem sao.

“Good Luck” như một câu chuyện cổ tích. Cổ tích dành cho cả người lớn và  trẻ em. Trong đó May mắn là một câu chuyện về cây cỏ bốn lá. Biểu tượng của may mắn mà các bạn trẻ vẫn săn tìm. Cỏ bốn lá đó tồn tại hay không tồn tại, hay vẫn chỉ có trong truyện cổ. Chỉ biết là “Good Luck” cho hay, có hai loại may mắn, một có tên gọi là may mắn từ trên trời rơi xuống – kiểu há miệng chờ sung; loại thứ hai là may mắn do chính bản thân chúng ta tạo ra.

May mắn đầu tiên chỉ khiến cho người có may mắn trở thành kẻ bất hạnh. Còn may mắn thứ hai làm cho con người trở nên mạnh mẽ, thành đạt và hạnh phúc. Cụ thể là, may mắn do chính con người tạo ra.

“Living Foward” là một Bản kế hoạch cuộc sống. Nghĩa là ta phải lập sẵn một kế hoạch. Kế hoạch đó phải được lập trước ba năm. Cụ thể, năm 2017 này ta đã phải chạy sẵn một kế hoạch tới năm 2020 rồi. Trong đó, cuốn sách kể rất hay, cách chúng ta nên dành ra đúng một ngày, không tin nhắn, không gia đình, ko bận tâm dù nhỏ nhất để viết ra một bản kế hoạch dài từ 8 -15 trang. Hi hi, thật khó, mình cũng chưa thử. Nhưng bản kế hoạch đó không đóng cứng, mà sẽ được thay đổi cho tới khi hoàn hảo theo ý người viết. Trong ba tháng đầu, người viết kế hoạch phải dành từ 5-10 phút mỗi sáng, đọc to lên để ghi nhớ thật kĩ, chỉnh sửa thật chuẩn và có động lực cho cuộc sống có kế hoạch sẵn phía trước.

Giờ mình hiểu tại sao mình rơi! Vì hóa ra mình chưa bao giờ mong may mắn rơi uỵch cái vào đầu, nhưng đã chưa tự tạo may mắn cho chính mình.  Và nhất là chưa thử đặt bút để có một Kế hoạch rõ ràng trong Cuộc sống. Thực ra, mình và gia đình có, nhưng chưa phải là một kế hoạch cụ thể, và nghiệm thu xem nó đã được thực hiện thế nào.

À tới đây mình lại nhớ tới Nguyễn Vĩnh Nguyên với “Những thành phố trôi dạt”. Trong đó Nguyên có kể về một lữ khách quyết định thử lên xe buýt và đi vô định tới những điểm đến trong thành phố. Kể cả bác xế xe cũng ngạc nhiên khi thấy lữ khách đó không mình sẽ đi đâu, sẽ điểm đến nào. Ban đầu thì lữ khách cũng thấy ngạc nhiên, thấy mắt sáng rỡ và có nhiều thay đổi. Nhưng cuối cùng lữ khách đó chợt nhận ra, bác xế, hay cũng chính là bản thân lữ khách lúc này. Bác xế trước khi là xế vì muốn thay đổi bản thân mình đã đổi sang nghề lái xe, nhưng hóa ra giờ cuộc sống của bác vẫn thế, tưởng được đi đây đi đó, nhưng mỗi chuyến đi vẫn cứ phải… lập trình. (Nguyễn Vĩnh Nguyên viết duyên lém, mình kể lại hơi vô duyên).

Và mình hem rơi, đã chững lại lúc này.

(Bonus thêm là sau khi nghe mình kể vài chi tiết thú vị, gây tò mò, cậu con zai đã vồ lấy cuốn sách và đọc cũng gần xong. Quan trọng không phải là đọc, mà là lĩnh hội, là thay đổi).

 

Advertisements

Giận

images (1)

nguồn ảnh: Internet.

Tối qua, trên dường về nhà. Xe máy đang bon gần tới ngã năm, nghĩa là mình cũng đã sắp về đến nhà. Tạm dừng lại đôi chút, đèn đỏ gọi. Cách ngã rẽ 5 mét, ngay phía trước mình, một chiếc xe Space hay Lead màu đen (đừng hỏi mình về các loại nhãn hiệu xe, mình dốt lắm). Cậu bé cô bé còn rất trẻ. Mặc cùng màu đen. Cậu bé diện đồ thể thao, còn cô bé mặc quần đùi đen. Cặp đùi cho mình thấy cô bé còn rất trẻ.

  • Anh im đi, tôi không phải là loại đàn bà la liếm (!)

Cô bé quát khá to, xe mình phía sau, nên cũng đủ giật mình. Cậu bé đang lái xe không phản ứng gì. (Hay cậu bé đáp khẽ mà mình nghe không rõ).

Cô bé tiếp tục vùng vằng, tay không đặt ở vùng eo hay chạm vào cậu bé, mà một tay buông thõng, một tay đặt trên đùi của chính cô. Cô bé tiếp tục dùng  hai chân gạt phắt chỗ để chân cho nó cụp lại. Chân cô lơ lửng, cô đập lại vào nút để nó tiếp tục bật ra, còn có chỗ gác chân.

(Lại thì thầm gì đó vào tai cậu) và thái độ của cô bé rất đỗi vùng vằng.

Mình đi ngay phía sau. Im lặng tiến theo. Cậu bé không đèo cô bé tiếp tục dấn lên để chờ đèn đỏ. Cậu tấp vào lề đường từ tốn. Gạt chân chống. Tháo mũ bảo hiểm và cầm trên tay rồi sải những bước chân rất dài, đi bộ.

(Mình nghĩ thầm, vậy là chấm hết một mối quan hệ)

Nhớ lại hôm Chủ nhật hai tuần trước, ngay trên ngả đường Huỳnh Thúc Kháng, mình cũng gặp một đôi như thế. Cô bé này lớn tuổi hơn. Cô bé diện đồ trắng, cũng vẫn là quần đùi của giới trẻ ưa dùng. Cô khóc to và bù lu bù loa. Cậu bạn trai (mình đoán thế) cướp nhanh tay lái, đội vội mũ bảo hiểm và đèo cô bé rẽ quặt sang phải. Mình tiến thẳng, nhưng ngoái sang vẫn thế cô bé tiếp tục khóc to, lắc người và không chịu bám chặt vào eo người lái.

(Tuy nhiên cả hai vẫn đang ngồi chở nhau trên chiếc xe).

 

 

 

Đứng bên lề

images

Nguồn ảnh: Internet.

Nàng đề huề bên anh chồng đẹp trai và cậu bé con kháu khỉnh. Nàng đẹp. Nàng đi du lịch gặp gỡ bạn bè. Trong chuyến du hành gặp lại nhiều người cả những người trên mạng. Mình thấy nàng hạnh phúc.

Cái hạnh phúc toát ra từ nụ cười, từ thân hình vốn quyến rũ của nàng. Và mình biết nàng hạnh phúc bên chồng cũng như được cả một ánh nhìn ấp iu của nhiều người bạn.

Mình là kẻ bên lề, ngắm họ vui thú và cũng thấy vui lây. Và mình biết nàng trong sáng vô tư.

Chiều qua, tranh thủ xuống đi bộ và hưởng tí gió trời. Mà mỗi lần đi hưởng gió trời và tản bộ thể nào cũng lại rẽ đâu đó vào cửa hàng thời trang. Thường là cửa hàng quen. Hôm qua không mua, chỉ vào để buôn chuyện. Ờ mà lâu lâu ko được buôn, buôn thật sướng.

Thì cũng chẳng buôn về việc buôn bán của bạn làm gì. Cửa hàng của bạn to, bán hàng tểnh tềnh tênh. Số cũng sướng. Hôm qua mình được nghe tới một khái niệm mới “xi-líp hồng”. (hi hi, nói thẳng bách từ này hơi bị nhạy cảm nhỉ?!)

Khái niệm là sao, là những bạn, những cô gái yêu kiều, những nàng luôn đáng yêu (trong mắt một ai đó), ỷ thế sếp… để ra oai với nhiều người, và cả với những đồng nghiệp.

  • Chị ơi thế từ giờ trở đi em không được chọn đồ lót hồng nữa hở chị?
  • (hi hi) khó trả lời em í nhỉ!???

(Chuyện đến đây là hết, vì mình là người ngoài lề,  miễn bàn)

Đã sai, thì sửa

IMG_7348

Minh họa vẽ lại từ trong cuốn sách. H.T (chép)

Cuốn sách mỏng lắm, chừng hai trăm trang. “Mẹ cáu giận, con hư hỏng”, mới cái tít thôi đã khiến đủ cho người đọc sách giật mình. Ông tác giả người Nhật – Fusaichi Yamazaki sinh năm 1926, cuốn sách xuất bản ở Nhật năm 1999, vừa mới chuyển ngữ tại Việt Nam năm 2016, nghĩa là tác giả tròn 90 tuổi. Mình vừa khép lại cuốn sách, nguyên ba chương cuối để cho các bà mẹ thực hành. Cách thực hiện là giữ lại cơn giận, ném nó vào không gian đâu đó, đừng trút lên con trẻ. Thật ra mới đọc những chương đầu, mình đã bắt đầu thực hiện với hai bạn nhỏ nhà mình, lại kì thay, mình vốn là người nóng tính, khó thay đổi, vậy mà đã thay đổi được 7-8 phần.

Mẹ nào cũng yêu con, nhưng có hai cách. Hoặc là cho chúng ROI, hoặc tặng chúng KẸO. Có những bà mẹ vừa chọn cả roi lẫn kẹo, tỉ lệ pha trộn thế nào cũng tùy liều lượng của chính bà mẹ với các con mình. Tác giả Fusaichi chỉ chọn KẸO. Ờ, mà kẹo không thì ngọt ngào quá còn gì.

Nhưng xem chừng mâu thuẫn, mẹ luôn luôn cáu giận thế, con lại đang hư, làm sao mà ngọt ngào, làm sao mà nhẹ nhàng và chọn KẸO để cho con được nhỉ?! Vậy mà Fusaichi thuyết phục rất tài.

Kể từ đầu cho tới cuối thì khá dài, và khá lan man. Với những bà mẹ nào mà vẫn còn cáu giận hãy nên thử lắng lại và suy nghĩ những điều này xem nhé:

  • Hình như những cơn cáu giận với con là do chúng làm đều không thuận mắt mình, ưng ý mình.
  • Nếu như chúng ngoan ngoãn, điểm số tốt, rõ ràng mẹ sẽ tươi cười, sẽ cho rằng những đứa con của mình hoàn hảo.

Điều này hoàn toàn sai, bọn trẻ có lúc điểm tốt, và nhiều khi điểm xấu. Lũ trẻ nghe theo cha mẹ là bởi chúng sợ sệt, chúng lo lắng những cơn giận sẽ xảy đến bất cứ lúc nào thôi. Và nếu như những cơn giận đó thật dày, thật nhiều và toàn những đay nghiến, thì việc đứa trẻ đó trở nên cô độc, khi đủ trưởng thành chúng nghĩ tới… tự sát – là một chuyện ĐƯƠNG NHIÊN.

Thú thực nhé, đọc đến đâu, mình toát mồ hôi hột tới đó. Mình rất yêu con mà, sao lại có thể để chỉ nhiều cơn bực bội, cáu gắt, sẽ khiến chúng trở nên ngày một ương bướng, khó bảo.

Fusaichi nói, hãy khen con, hãy luôn là một động lực tốt bên con, đừng tưởng vạch ra cho chúng kế hoạch, bắt chúng đi theo thật bài bản. Sai rồi, hãy để chúng tự bước, tự lập, bằng chính khả năng của chúng. Và nếu chúng có vấp ngã, thì chính chúng sẽ đứng lên.

Tác giả “Mẹ cáu giận, con hư hỏng” chỉ ra nhiều điều, hiển nhiên là chúng ta thấy mình làm được, nhưng hóa ra trong thực tế chưa thử thực hiện lần nào. Mình chỉ dám trích nguyên một phần của trang 176, Fusaichi viết, thấm đấy, ngấm đấy nếu còn giận con thì càng phải đọc kĩ:

Trong thực tế cuộc sống thường sẽ có hai tuýp người:

Một tuýp người luôn tìm kiếm sự hoàn hảo, lúc nào cũng muốn thay đổi bản thân, do đó họ thường cố gắng trong vô vọng, đắm chìm trong nỗi đau khổ, dằn vặt và không bao giờ cảm thấy đủ;

Tuýp người còn lại thì luôn tự khẳng định bản thân 100%, luôn cảm thấy hài lòng với cuộc sống hiện tại của mình. Họ thường chuyên tâm vào nghề nghiệp, sẵn sàng kiên trì gian khổ để hướng tới mục tiêu hoàn thành một điều gì đó để lại cho đời.

Sự gian khổ của tuýp người thứ nhất hoàn toàn không có ý nghĩa. Ngược lại, sự hi sinh gian khổ của tuýp người thứ hai lại góp phần làm cho cuộc sống phong phú hơn.

Tuýp người 1 – sẽ là một bà mẹ cáu giận.

Tuýp người 2 – sẽ là một bà mẹ biết cho con KẸO trong suốt cuộc đời.

Đơn giản vậy thôi.

(Cụ thể, mình cũng đang sai, và đang biết tự sửa lại mình).

 

 

 

“Xóm”

xom-ra1Thôn xóm, nghe tới chữ Xóm là nghĩ tới làng mạc đồng quê rồi. Nhưng cái Xóm Rá của nhà văn Ngọc Giao rất khác. Sau khi đọc tới dòng cuối của tập Phóng sự Sài Gòn của cụ, mình phải đi tìm cái tên Ngọc Giao là ai. Hóa ra cụ cùng thời với các nhà văn Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Huy Tưởng… Cụ là Thư kí Tòa soạn tờ Tiểu thuyết thứ Bảy. Cụ là người Huế, học ở Hà Nội và thành danh ở Sài Gòn.

Xóm Rá nếu nói là Phóng sự thì không hẳn phải, vì cái văn phòng rất xông xáo, đầy ngồn ngồn chi tiết thời sự và phải người lăn lộn thì mới viết được nhiều chi tiết đắt giá, nhưng thực sự cuốn này của nhà văn Ngọc Giao giống một tiểu thuyết thì đúng hơn. Cụ viết về thân phận người con gái nhưng ở chốn tệ hại nhất, chốn gái (!).

Xóm Rá được phát hành hồi năm 2015, sau khi Ngọc Giao (mất năm 1997, thọ 86 tuổi) đã qua đời được gần 20 năm. Trước đó, nó nằm trong tập di cảo của cụ. Gái trong Xóm Rá rất tri thức. Họ lăn lộn để sống trên thân xác, nhưng xuất thân là những nhà giáo, tiếng Anh tiếng Pháp chửi nhau hơn… gió. Nhàn úp mông, vểnh chân mỗi ngày đều nghiền tiểu thuyết ngôn tình. Liên ngốc nghếch nhưng khi có năm tháng được trở thành người bình thường với những mơ mộng tình ái rất bình thường đã dám đá thẳng vào mặt thằng đàn ông tán tỉnh vớ vẩn. Tân là cô gái mà anh Hai – kí giả Linh (hay chính là cụ Ngọc Giao ngoài đời) – mong đợi nhất sẽ làm gì để giải thoát được hết những cô gái khỏi kiếp lầu xanh, cái Xóm Rá quẩn quanh nhưng đầy chuyện.

Đọc Ngọc Giao ở Xóm Rá vừa dễ vừa khó. Dễ vì cái mạch truyện của cụ là tiểu thuyết, với những tuyến nhân vật giản đơn. Cụ tả từ ông chủ bà chủ lầu cho tới từng cô gái làng chơi, khách chơi đều rất dễ hình dung, dễ mến, dễ yêu, dễ… ghét! Khó ở chỗ ông thỉnh thoảng chơi chữ cổ, chữ của thời các cụ mới dùng, như Lục-xì (bệnh viện hay nghĩa là phiên âm từ tiếng Anh Look, See), bệnh tiêm la… Khó ở chỗ, Ngọc Giao dùng mồm cô gái điếm chửi quí bà sang trọng, đọc rất đã, và rất động… chạm. Mình phải bật cười khi đọc đến đoạn lão già ki bo chỉ dám ngắm gái qua lỗ thủng trên chiếc ô đen mà con ở Na phát hiện ra; đến khi, ông già dám chơi gái, thì … cũng chỉ dám uống nước đường, thay vì gọi những món ngon  phè phưỡn (:D)

Cụ Ngọc Giao chém gió hay lắm, thôi mình chỉ trích nguyên, không bình luận, mất hay:

Thưa bà Tổng, đây là một chỗ bán dâm chuyên nghiệp, một hỏa ngục tập trung tội ác của hàng triệu đàn ông. Họ bước vào đây, họ trả tiền. Họ mua dâm. Chúng tôi, tiền trao cháo múc, chúng tôi bán thịt. Hợp tình. Họp lí. Và hợp pháp. Công khai như một thị trường tự do. Không ai khinh chúng tôi. Bởi như chúng tôi vừa nói, chúng tôi bán dâm chuyên nghiệp, làm đĩ có môn bài, không lậu thuế, không ăn cắp tiền, không đánh cắp tình của ai hết trội! Còn các bậc phu nhân quí phái thì, thưa bà tổng, các bà, tôi biết lắm, hằng ngày hằng đêm cũng bí mật bán dâm. Các bà bán dâm trên xe hơi đi ngắm trăng thanh gió mát. Các bà bán dâm trên bãi biển, dưới chân đồi, trong biệt thự Đà Lạt, Cửa Tùng, Ô Cấp, Huê… Các bà bán dâm cả trong văn phòng nhà vua, trong salon thủ tướng, trước két bạc ngài thủ hiến, trong cánh tay đủ thứ quan to Tây, Nhật, Mỹ. Để làm gì? Để cầu danh vọng cho chồng, để chạy cho tình nhân khỏi tù vì thụt két, để đổi xác thịt lấy cái triện sọn mà bán độc quyền sợi, len, gạo, muối, một tháng lời tậu luôn vài biệt thự…

Còn nhiều chi tiết hay hơn, động chạm phía sau cái mồm của các chị “đĩ rạc, đĩ rày” này.

Trích thì cũng tranh thủ trích thêm một đoạn nữa để thấy cái chua ngoa, đáo để của cụ Ngọc Giao:

Tao nhường quần cho con Nhạn… Na tụt quần ngoài, ném lên tay Tân. Thằng buôn xác thập thò sau chiếc áo quan trong xó tối, nghiêng ngó nhìn bộ đùi Na. Giữa những đống ruột gan, xương thịt thối nát và lạnh cứng, bộ đùi Na còn là thịt sống, còn nóng hổi, còn thơm phưng phức, còn làm cho nó rỏ dãi thèm. Na cười khanh khách, nước mắt ròng ròng bò xuống rìa môi, Na đưa lưỡi liếm nước mắt, và lại cười sằng sặc.

Năm 2012, con trai cụ đã chuyển để xuất bản ba cuốn Bến đò rừng (truyện ngắn), Đốt hương lò cũ (kí về các nhà văn) và Mưa thu (truyện dài) của cụ. Với mạch đọc đang muốn tìm hiểu về văn phong của cụ Ngọc Giao, mình có lẽ lại phải săn tìm nốt ba cuốn kia mất nhỉ!?

 

 

Nước mắt

img732.u335.d20161021.t131220.739633.jpg

Bìa sách

Quả thực là mình không biết buồn hay vui khi đọc “Chuyện ngõ nghèo” của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh. Nhớ cách đây 6 năm, ông đã làm mình khóc với “Đội gạo lên chùa”. Nay không rỏ một giọt nước mắt, nhưng rùng mình, giật mình, ám ảnh khi gặp lại ông.

Nguyễn Xuân Khánh được mọi người biết đến và tôn vinh với “Hồ Quý Ly”, “Mẫu thượng ngàn”, tiểu thuyết lịch sử. Mình thích ông ở những tiểu thuyết rất đời, “Đội gạo lên chùa”. Còn nay là tiểu thuyết triết luận thì đúng hơn “Chuyện ngõ nghèo”.

Bìa đẹp, rất đẹp với minh họa của họa sĩ Đào Hải Phong. Chữ in nổi chắc là chữ viết tay của chính họa sĩ.

Nguyễn Xuân Khánh kể về chú Ỉ nhân vật chính có tên Lợn Bò. Chú là một con vật lai giữa Lợn và Bò. Vẫn gọi chú là Lợn bởi chú được nuôi để lấy thịt, chú có vóc dáng, cách ăn và vẫn xực cám là chính. Chú chỉ là Bò khi nhìn vào mắt đẹp như một chú Bò Ấn Độ và những sợi lông thưa dài, ánh lên một màu vàng.

Ông kể về Lợn mà rất duyên. Lợn để giúp ông thoát nghèo, nhưng thoát đâu chưa thấy, cái lạnh nhất, cái đáng sợ nhất là khi ông tả về việc con Ỉ lai Bò của ông nó nhai Đốt (nhà văn) cứ rau ráu, và nhờ nhai xương, chỉ chừa lại có bộ râu mà khiến cho con Lợn tăng trọng rất nhanh. Phỉnh phờ rất giỏi và lớn lên rất tài.

Nguyễn Xuân Khánh tả thêm về một nhà văn viết triết luận Lợn, tập hợp trong đó những câu chuyện về lợn đầy quái đản. Ông nhà văn có tên là Tám. Để cuối cùng  Tám đã chết vì chính nghĩa, cứu người xả thân quên mình.

Đọc Nguyễn Xuân Khánh thực sự rất sướng. Ông giả bộ là câu chuyện chú Ỉn này là một nhật kí của Lợn. Nhưng thật ra là nhật kí của chính ông. Ông trong truyện tên là Hoàng. Nhân vật Hoàng khi làm tình với vợ thì đuội, trong khi chăm Lợn thì cứ như đang ở… trên mây (!)

Hoàng gặp Hồ Ly để rồi chính Hồ Ly là nhân vật Mi người đọc cũng dễ dàng đoán ra, nhưng Nguyễn Xuân Khánh kể rất khéo, rất tài, liêu trai, dễ đọc, nhưng khó kể lại.

Năm 1981 – 1982, cả nước nghèo, Nguyễn Xuân Khánh kể chuyện nuôi lợn… thì quá ư là đúng rồi, nhưng trong đó có một phần ba là viễn tưởng. Gọi là viễn tưởng mà không phải viễn tưởng. Đó là một xã hội thực văn minh, thực cao đẹp, nhưng tịnh không có nỗi buồn, và đặc biệt là con người không thể rỏ… NƯỚC MẮT.

Ở xã hội đó Nguyễn Xuân Khánh đặt tên là Cực Thiên Thai, từa tựa như Cõi Niết Bàn trong Phật hay Thiên Đường nơi Thiên chúa giáo. Hihi, nhưng Cực Thiên Thai con người hem có làm tình, họ chỉ có lai giống như lợn lai. Và để cuối cùng chúa tể của Cực Thiên Thai có cái tên đánh số là A1, chính là chú Ỉ  Lợn Bò của nhân vật chính Nguyễn Hoàng.

Thú vị này đến thú vị khác khi đọc Nguyễn Xuân Khánh. Với nhà văn, khi đó chưa đầy năm mươi, bút lực còn khỏe, ông viết “Chuyện ngõ nghèo” và được khen là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của ông. Quả không uổng khi chọn, và đọc.

Ở đất Thủ đô này, nhà nào đã kinh qua chuyện nuôi lợn, đọc lại “Chuyện ngõ nghèo” của Nguyễn Xuân Khánh quả thấy như sao chuyện gì ông cũng tường. Mình đọc và nhớ lại thời mẹ nuôi lợn. Ngày xưa chả hiểu sao, mẹ chỉ chọn nuôi lợn đen. Bà chăm chỉ vớt bèo, thời đó bà làm ở cách nhà những bảy cây số, đầy bèo. Bà mua rau muống, bà tích nước gạo, đồ thừa để nấu cám cho lợn ăn. Nhưng lần nào chú lợn đen của bà cứ thau tháu ba mươi cân là… đổ vật ra chết. Ngày đó, mình mới mười một mười hai, chưa hiểu nỗi đau, thương mẹ. Nhưng cũng thấy bà rất tội, cố vớt vát thuê người mổ lợn tháu đó rồi bày ra ngay ở KTT bán thịt cho những người dân khi đó vừa đói, vừa thèm… thịt lợn. (Thôi cũng đành ăn tạm).

Chuyện lợn chết, được Nguyễn Xuân Khánh đặc tả với nhân vật Lân. Nhiều bí ẩn và thú vị, sợ nhất là vớt lòng dưới cống đen ngòm, bà bán lòng lợn thì dùng hóa chất tẩy sạch rùi luộc thơm, rán giòn bán cho người ăn. Còn Lân thì đem nó tái chế thành… món ăn để nuôi lợn tiếp. Vừa đọc vừa kinh sợ.

Hi hi, để kể “Chuyện ngõ nghèo” thì còn nhiều nhiều chi tiết hay lém. Ai đó, muốn thưởng thì mời… mua, hoặc qua mình cho mượn.

Thế nhỉ?! 🙂

Người lạ (tiếp theo 20)

15685

Tiểu sử đầy đủ về Camus. Nguồn ảnh: Goodreads.

NGƯỜI LẠ

Albert Camus

Dựa theo bản dịch tiếng Anh từ tiếng Pháp của Stuart Gilbert (N.H.T chuyển ngữ (*)/Phần 2/Tiếp)

>> Phần trước

IV

LUÔN LUÔN thú vị, thậm chí cả trên bục của bị cáo, để nghe bản thân nói về mình. Và chắn chắn trong những bài phát biểu của luật sư bào chữa cho tôi và luật sư bên nguyên một lí tưởng tuyệt vời là nói về tôi; hơn nữa, trong thực tế, về cá nhân con người tôi hơn là về tội lỗi của tôi.

Thực sự cũng không có bất cứ sự khác biệt lớn lao nào lắm giữa hai bản luận tội. Luật sư biện hô giơ cánh tay của gã lên tận trời xanh và cam kết tội lỗi, nhưng với nhiều tình tiết giảm nhẹ. Ủy viên công tố có những cử chỉ tương tự; ông đồng ý rằng tôi phạm tội, nhưng phủ nhận những tình tiết giảm nhẹ.

Một điều về công đoạn này của phiên tòa có phần tẻ nhạt. Thường là, thú vị khi tôi là những gì họ đang nói tới, tôi đã cố gắng nói gì đó, về bản thân mình. Nhưng luật sư của tôi đã khuyên tôi đừng. “Cậu không nên làm vậy trong trường hợp của cậu dù tốt để nói”, gã đã cảnh báo tôi. Thực tế, dường như có một thông đồng để loại tôi khỏi mọi tiến trình tòa án; Tôi đã không có gì phải nói và định mệnh của tôi đã bị quyết định ngoài tầm với của tôi rồi.

Hoàn toàn là một sự cố gắng nhiều lần đối với tôi, cố kiềm chế việc để sự việc tất cả đều ngắn gọn, và nói: “Nhưng, thật đốn mạt, ai là người được xử trong phiên tòa này, tôi muốn được biết? Đó là một vấn đề nghiêm trọng đối với một con người, bị kết tội giết người. Và tôi có vài điều thực sự quan trọng để nói với mọi người”.

Tuy nhiên, ý nghĩ trong một giây, tôi nhận ra tôi chẳng có gì để nói. Trong bất cứ trường hợp nào, tôi phải thú nhận nghe bản thân nói về mất mát thú vị hơn nhiều. Đặc biệt là, bài phát biểu của Ủy viên công tố, bắt đầu làm tôi buồn tẻ trước khi ông đi được nửa hành trình. Có những điều thực sự chỉ gây được sự chú ý của tôi là những quãng nghỉ tình cờ, thái độ của ông, và một vài chỉ trích kĩ lưỡng của ông – nhưng nhưng thứ này là những mảng miếng vá loang lổ cô độc.

Ông ta đang hướng tới điều gì, tôi tóm lược, là chỉ ra tội lỗi của tôi, đã suy tính trước. Tôi nhớ lời nói của ông khoảnh khắc đó, “Tôi có thể chứng minh điều này, những quí ông đáng kính của bồi thẩm đoàn, thấu đáo đến tận cùng. Thứ nhất, các ông đã có những cứ liệu về việc phạm tội; mọi thứ đã rõ ràng như ánh sáng của ban ngày. Và tiếp đến các ông đã có những gì mà có lẽ tôi gọi là khía cạnh bóng đêm của vụ án này, kết quả mờ ám của một tội phạm tâm thần”.

Ông ta bắt đầu tóm lược những cứ liệu, từ cái chết của mẹ tôi. Ông ta nhấn mạnh điểm không có trái tim của tôi, không biết tới tuổi của mẹ, chuyến đi tới bể bơi của tôi nơi tôi đã gặp Marie, buổi biểu diễn tại rạp chiếu phim nơi có bộ phim của Fernandel đang trình chiếu, và cuối cùng sự trở lại của tôi với Marie tại phòng tôi. Đầu tiên, tôi đã hoàn toàn không thể theo được những điểm mốc của ông, khi ông tiếp tục nhấn mạnh về “quí cô của bị cáo” bởi vì đối với tôi cô ấy chỉ là thể là “Marie”. Sau đấy, ông nói về chủ đề của Raymond. Với tôi dường như cái cách ông lừa mị thực tế chỉ ra một sự khôn ngoan chắc chắn. Ông nói tất thảy đều nghe có vẻ hoàn toàn hợp lí. Tôi đã viết một bức thư, toàn bộ về Raymond để mời gọi bạn gái của anh ta tới phòng và chỉ cho thấy cô nàng đã ứng xử-tồi bởi một người đàn ông “tiếng tăm chả minh bạch chút nào”. Sau đó, trên bãi biển, tôi nhớ lại vụ đánh lộn với những kẻ thù của Raymond, kết cục Raymond đã bị thương. Tôi hỏi anh ta về khẩu súng ngắn ổ xoay và tôi tự trở lại với ý định sẽ sử dụng nó. Tiếp đến tôi bắn tên A rập. Sau phát súng đầu tiên tôi ngừng lại. Sau thì, “để chắc chắn hoàn thành được tốt công việc”, tôi đã nhả bốn phát đạn liên tục, không-chủ đích, và thật lạnh lùng, vào nạn nhân của tôi.

“Đó là chứng cớ của tôi”, ông nói. “Tôi đã mô tả với các ngài hàng chuỗi sự kiện dẫn người đàn ông này bắn vào xác chết, cảnh báo toàn tập về những gì cậu ta đang làm. Tôi nhấn mạnh điểm này. Chúng tôi không suy xét tới một hành động của giết người mà bị bỏ tù vì hành động bốc đồng đột ngột có lẽ sẽ được xem xét như một tình tiết giảm nhẹ. Tôi nhắc các ngài ghi nhớ, những quí ông của bồi thẩm đoàn, rằng tù nhân này là một người đàn ông có học. Các ngài đã dõi theo cách cậu ta đã trả lời các câu hỏi của tôi; cậu ta thông minh và cậu ta biết được giá trị của ngôn từ. Và khi tôi nhắc lại là hoàn toàn khó có khả năng để giả bộ rằng, khi cậu ta đã khẳng định việc phạm tội, cậu ta không ý thức về những gì cậu ta đang làm”.

Tôi nhận ra ông xoáy mạnh vào “trí thông minh” của tôi. Điều này khiến tôi thắc mắc tại sao lại được coi như là một điểm tốt đối với một con người bình thường nhưng vẫn vậy thôi lại trở thành chống đối một người đàn ông bị kết án, bởi đó là một bằng cớ bao trùm về tội lỗi của anh ta. Trong lúc nghĩ cho ra vấn đề này, tôi bỏ lỡ những gì ông nói tiếp theo, cho tới khi tôi nghe thấy ông cảm thán đầy căm phẫn: “Và liệu cậu ta có thốt ra một từ nào hối lỗi cho hành động tội lỗi bỉ ổi nhất của cậu ta? Không một lời nào, thưa các quí ngài. Không một lần trong mọi tiến trình của tòa án người đàn ông này ít nhất có một lần chỉ ra có ăn năn?”.

Quay hẳn về phía vành móng ngựa, ông chỉ ngón tay vào tôi, và tiếp tục giọng căng thẳng như vậy. Tôi thực sự không thể hiểu tại sao ông lại nhay đi nhay lại điểm này quá nhiều. Tất nhiên, tôi có hiểu rằng ông đúng; tôi đã không cảm giác hối lỗi nhiều lắm cho những gì tôi đã làm. Song, đối với suy nghĩ của riêng tôi ông đã làm quá nó lên, và tôi muốn có một cơ hội giải thích với ông, trong tư cách hầu như tình cảm nhất, hoàn toàn thân thiện, rằng tôi chưa từng bao giờ thực sự phải hối lỗi điều gì trong tất cả cuộc đời tôi. Tôi luôn luôn ở xa đến mức mê mải trong khoảnh khắc hiện tại, hoặc tương lai tức thời, để nghĩ lại. Dĩ nhiên, ở vị trí tôi đã bị đẩy tới, không có một câu hỏi nào bằng giọng của tôi đến một ai với âm lượng ấy. Tôi đã không có quyền chỉ ra bất cứ cảm nhận thân tình hay sở hữu bất cứ ý định tốt đẹp nào. Và tôi cố để theo dõi điều gì tiếp theo, khi Ủy viên công tố đang băn khoăn cái mà ông gọi là “linh hồn” của tôi.

Ông nói ông đã nghiên cứu nó rất kĩ – và đã tìm ra một khoảng trống, “chả có ý nghĩa gì cả, thưa quí ngài trong bồi thẩm đoàn”. Thực là, ông nói, tôi không có linh hồn, chẳng có một loại người nào như tôi, không có một ai có những tính cách đạo đức như thế mà những người đàn ông bình thường sở hữu một được vị trí trong tâm trí tôi. “Không nghi ngờ gì nữa”, ông kết luận, “chúng ta không nên làm cậu ta xấu hổ vì điều này. Chúng ta không thể đổ lỗi cho một người đàn ông bởi thiếu cái gọi là chưa từng có trong khả năng của cậu ấy để đòi hỏi. Nhưng trong một phiên tòa tội phạm với lí tưởng của tha thứ tất thảy, cần phải có một vị trí đạt công lí hoàn hảo cao quí hơn, cứng rắn hơn. Đặc biệt là sự thiếu thốn mọi bản năng tử tế kiểu như người đàn ông này trước các ngài, một sự đe dọa đối với xã hội”. Ông vượt tới bàn cả đạo đức của tôi với mẹ tôi, nhắc lại rằng ông đã nói trong cả phiên tòa nghe thấy. Nhưng ông nói  với mức độ phạm tội của tôi khủng khiếp hơn nhiều  – và cả thời gian thực hiện, thật ra, tôi đã mất đầu mối và chỉ đủ tính táo để chống chọi với cái nóng ngày càng tăng lên rõ rệt.

Mỗi khoảnh khắc khi Ủy viên công bố ngừng lại, và sau một khoảng im lặng ngắn, ông nói trong một giọng bật, thấp: “Đây là phiên tòa tương tự, thưa các quí ông, sẽ được gọi vào xử ngày mai cũng là kiểu tội phạm ghê tởm nhất, vụ con trai giết cha”. Đối với tâm trí của ông, loại tội phạm kiểu này không thể nào tưởng tượng nổi. Nhưng, ông mạo muội hi vọng, công lí sẽ phải được thực thi chứ không thể bỏ qua. Và song, ông nhấn mạnh nói, sự khủng khiếp thậm chí kiểu tội phạm con giết cha hay mẹ làm ông nhợt nhạt bên cạnh đó căm thù đem lại sự nhẫn tâm trong tôi.

“Người đàn ông này,  là người phạm tội đạo đức đối với cái chết của mẹ cậu ta, không còn phù hợp chút nào để có được một chỗ đứng trong cộng đồng hơn người đàn ông kia đã giết cha để bảo tồn bản thân. Và, thực ra, hành động tội lỗi của người này có ảnh hưởng tới người kia; trước tiên trong hai loại tội phạm này, người đàn ông đang đứng trên vành móng ngựa đây, được xử trước, và nếu có thể tôi nói mạnh, vụ án thứ hai cũng tương tự. Vâng, các ngài yêu quí, tôi đảm bảo” – lúc này giọng ông dâng lên một mức nữa – “các ngài sẽ phải thấy là tôi đã không xử quá trường hợp này nhằm chống lại bị cáo khi tôi nói rằng, cậu ta phạm cũng tội giết người chính tại phiên tòa này xử vào ngày mai. Và tôi mong các ngài ra một lời phán quyết chính xác”.

Ủy viên công tố dừng lại một lần nữa, để lau mồ hôi khỏi gương mặt ông. Sau đó ông giải thích, nhiệm vụ của ông là một nhiệm vụ đau đớn, nhưng ông sẽ vẫn làm nó mà không lưỡng lự. “Người đàn ông này, tôi nhắc lại, không có một chỗ đứng trong một cộng đồng với những nguyên tắc cơ bản, cậu ta đã lăng nhục mà không ăn năn gì. Không, người không có trái tim là cậu ta, không xứng đáng được nhận hạnh phúc. Tôi yêu cầu các ngài thực thi luật pháp mà không đánh tráo khái niệm; và tôi yêu cầu xử ngay không e sợ. Trong một thời gian dài theo đuổi nghề nghiệp của mình, ở đây tôi thường có trách nhiệm yêu cầu xử tử hình, chưa từng khi nào tôi cảm thấy trách nhiệm đớn đau có chút nặng nề trong tâm trí tôi như vụ án này. Để đòi hỏi một lời phán quyết phạm tội mà không có bất cứ tình tiết giảm nhẹ nào, tôi theo đuổi nó không chỉ thấy rõ sự tỉnh táo của tôi và một nghĩa vụ bất khả xâm phạm, nhưng cũng là một trong những sự phẫn nộ đúng đắn và tự nhiên tôi cảm không lóe lên chút gì cảm nhận của loài người”.

Khi Ủy viên Công tố ngồi xuống có một khoảng lặng dài nhất. Cá nhân tôi hoàn toàn đã vượt qua bởi cái nóng và điều vui thú mà tôi đã và đang nghe được. Quan tòa phán xử đã ho ngắn, và hỏi tôi với một giọng thấp, tôi còn điều gì để nói. Tôi đứng dậy, và tôi ở trong tâm trạng tôi muốn nói, tôi nói điều đầu tiên xuất hiện qua trí não tôi: Tôi không có ý định giết người A rập. Quan tòa đáp lại, điều này có thể sẽ được tòa án xem xét. Trong khi vui khi nghe điều đó, trước khi luật sư biện hộ của tôi nói với tòa, những động lực nào khiến tôi phạm tội. Hơn nữa, gã phải thú nhận, gã hoàn toàn không hiểu được nền tảng sự bảo vệ bạn của tôi.

Tôi đã cố gắng giải thích đó là bởi vì mặt trời, nhưng tôi đã nói quá nhanh và những lời của tôi đã chạy xô vào nhau. Tôi chỉ còn cố tỉnh táo để những âm thanh không quá vô nghĩa, và, trong thực tế, tôi nghe thấy mọi người đang xì xào.

Luật sư của tôi nhún vai. Sau đó gã trực tiếp biện hộ trước tòa, khi đến lượt gã. Nhưng tất cả gã làm là chỉ ra đã muộn giờ và đề nghị được hoãn phiên tòa cho tới buổi chiều hôm sau. Với điều này quan tòa đồng ý.

Khi tôi được mang trở lại tòa ngày hôm sau, những chiếc quạt điện vẫn tiếp tục quay vòng tít trong không khí nặng nề và những người đàn ông của bồi thẩm đoàn đang miệt mài những chiếc quạt tay nhỏ bé sặc sỡ trong một nhịp điệu chắc chắn. Lời biện hộ của luật sư dường như đối với tôi dài vô tận. Tại một khoảnh khắc, tuy nhiên, tôi đã lãng tai mình ra; là lúc tôi nghe thấy luật sư nói: “Đây là sự thật tôi đã giết người”. Gã tiếp tục với một sự căng thẳng đều đều, nói “tôi” khi gã đề cập tới tôi. Điều này dường như quá kì lạ để tôi quì trước cảnh sát bên phải tôi và yêu cầu ông cho tôi giải thích. Ông bảo tôi câm miệng; sau đó, sau khoảnh khắc ấy, thì thầm: “Họ đã làm tất cả điều đó”. Dường như đối với tôi đó là ý tưởng nằm phía sau, nó đẩy xa tôi ra khỏi hẳn phiên tòa, đẩy tôi lạc khỏi quĩ đạo. Để nói rằng, luật sư đã thay thế cho bản thân tôi. Dầu sao, đó là cả một vấn đề nặng nề; tôi thực sự cảm thấy những thế giới đã xa rời khỏi phiên tòa này và “những tiến trình” tẻ nhạt của nó.

Luật sư của tôi, dầu trong trường hợp nào, đẩy tôi vừa nhu nhược vừa đáng nhạo.  Gã ào ào lời biện hộ đầy khiêu khích của gã, và sau đó, gã cũng bắt đầu nói về linh hồn tôi. Nhưng tôi có một ấn tượng gã ít tài năng hơn nhiều so với Ủy viên Công tố.

“Tôi cũng”, gã nói, “có một nghiên cứu chặt chẽ về tâm hồn của người đàn ông này; nhưng, không giống với bạn học của tôi về khởi tố khởi kiện, tôi đã tìm được một vài điều ở đây. Thực sự, tôi có thể nói rằng tôi đã đọc được tâm trí của thân chủ tôi trong một cuốn sách mở”. Những gì gã đọc được về tôi ở đó là tôi là một chàng trai trẻ tuyệt vời, một công chức tận tâm, chắc chắn, người có thể làm những điều tốt nhất cho ông chủ của mình; rằng tôi quảng giao với mọi người và cảm thông với những rắc rối của người khác. Theo gã, tôi là một người con trai có trách nhiệm, người đã giúp đỡ mẹ của mình trong một thời gian mà tôi có thể. Sau suy xét căng thẳng tôi đã đưa đến một kết luận, bước về nhà, mẹ già đã hài lòng với những gì tôi chuẩn bị, bà cấm tôi đã cung cấp thêm cho bà. “Tôi là một kinh ngạc, thưa quí ngài bồi thẩm đoàn”, gã nói thêm, “bằng thái độ của những người bạn học của tôi có nói tới trong Viện Dưỡng lão. Chắc chắc là nếu cần chứng minh điều tuyệt hảo của những viện giống như thế này, chúng tôi chỉ cần nhớ rằng họ đang được khuyến khích và hỗ trợ tài chính bởi bộ phận của chính phủ”. Tôi nhận thấy rằng gã đã không đề cập gì tới đám tang, và điều này dường như đối với tôi là một sự loại trừ nghiêm trọng. Nhưng, với những gì gã nói một mạch, những ngày và những giờ không có hồi kết đều đã và đang bàn về “tâm hồn” của tôi, và phần còn lại là, tôi nhận ra tâm trí của tôi đã trở nên lờ mờ; mọi thứ đang dần dần biến thành một sự mơ hồ, sương mù, xám xịt.

Chỉ có một tình tiết lóe lên; đến tận cùng, trong khi luật sư bảo vệ tôi đang rông dài, tôi nghe thấy tiếng kèn thiếc của một người bán kem dạo trên phố, một tiếng động nhỏ ré lên cắt ngang qua dòng của những ngôn từ. Và sau đó một sự vội vã của những kí ức đã quan tâm trí tôi – những kí ức của một cuộc đời đã từng là của tôi không lâu nữa đã và đang một lần cung cấp cho tôi những vui thú bình dị nhất, chắc chắn nhất: Những mùi vị ấm áp của mùa hè, những con phố yêu thích của tôi, bầu trời vào đêm, những chiếc váy của Marie và tiếng cười to của nàng. Chẳng còn khát vọng thành công vào những gì đang xảy ra ở đây, dường như đã khiến mọi thứ dâng lên cổ tôi, tôi cảm giác giống như đang nôn, và tôi chỉ có một ý tưởng: Để mọi thứ qua đi, để quay lại buồng giam, và ngủ… rồi ngủ.

Mơ hồ tôi nghe luật sư biện hộ cho tôi đưa ra những chứng cứ cuối cùng.

“Những quí ngài của bồi thẩm đoàn, chắc chắn các ông sẽ không buộc một thanh niên chăm chỉ làm việc, tử tế phải chết chứ, bởi vì một khoảnh khắc thảm họa cậu ấy đã mất kiểm soát? Cậu ấy không bị phạt một cách đáng kể bởi hối lỗi cả đời cho những mất mát mà cậu ấy phải chịu ư? Tôi tin tưởng chờ đợi phán quyết của các ngài, chỉ phán quyết có thể – vụ giết người với nhiều tình tiết giảm nhẹ”.

Phiên tòa tạm nghỉ, luật sư ngồi xuống nhìn trông khá kiệt sức. Một trong những đồng nghiệp của gã đến gặp và bắt tay gã. “Cậu đã có một buổi trình bày đáng nể, cậu bạn già à?”, tôi nghe thấy một trong bọn họ nói vậy. Một luật sư khác gọi tôi tới đối chứng: “Tốt, phải không nào”. Tôi đồng ý nhưng không thật sự chân thành; tôi đã quá mệt mỏi để phán xét nó là “tốt” hay không nữa rồi.

Trong khi ngày đã qua và sức nóng đã trở nên bớt hơn rồi. Bởi vài tiếng động mơ hồ vọng tới tôi, tôi biết mát mẻ của đêm đã bắt đầu. Tất cả chúng tôi ngồi xuống, chờ đợi. Và điều tất cả chúng tôi đang chờ đợi thực sự không liên quan đến ai khác trừ tôi. Tôi nhìn quanh phòng xử án. Tôi gặp những ánh mắt của các phóng viên màu xám và ả người máy. Điều này nhắc nhở tôi rằng không chỉ một lần trong suốt quá trình nghe xử tôi cố gắng bắt được ánh nhìn của Marie. Nó không phải là tôi đã quên nàng; chỉ vì tôi bị bao vây quá. Tôi nhìn thấy nàng lúc này, ngồi giữa Céleste và Raymond. Nàng vẫy tay nhẹ về phía tôi, dường như nói, “Gần kết thúc rồi!”. Nàng đang mỉm cười, nhưng tôi có thể nói rằng nàng đang lo lắng ghê gớm. Nhưng trái tim tôi dường như hóa đá, và tôi thậm chí không thể mỉm cười đáp lại nàng.

Các quan tòa, bồi thẩm trở lại chỗ ngồi. Ai đó đọc to cho bồi thẩm đoàn, rất nhanh, một chuỗi câu hỏi. Tôi bắt được từ vựng lúc được lúc không. “Cố tình phạm tội chống đối lại luật pháp… Khiêu khích… Những tình tiết giảm nhẹ”. Bồi thẩm đoàn ra ngoài, và tôi được dẫn vào một phòng nhỏ nơi tôi đã chờ đợi. Luật sư của tôi đến gặp tôi; gã nói rất rất nhiều và chỉ rõ thân tình lịch thiệp và tin tưởng hơn trước đây nhiều. Gã trấn an tôi, mọi thứ đang tốt đẹp và tôi sẽ được thả sau vài năm ở tù hoặc thuyên chuyển. Tôi hỏi gã những cơ hội kết án tử hình liệu đã miễn nhiễm. Gã đáp không có chuyện kết án tử hình. Gã không nêu được bất cứ quan điểm luật nào, trong khi điều này phụ thuộc vào quyết định của bồi thẩm đoàn. Và thật khó để có một sự phán quyết đưa ra từ những nền tảng kĩ thuật. Tôi nhìn thấy quan điểm của gã, và đồng ý nhìn vấn đề một cách thiếu đam mê, tôi chia sẻ góc nhìn của gã. Hoặc không sẽ chẳng đi được tới quyết định cuối cùng. “Trong mọi tình huống”, luật sư nói, “cậu có thể bộc lộ bình thường. Nhưng tôi được rõ lời phán quyết có thể chấp nhận được.

Chúng tôi chờ thêm một chốc, khoảng bốn mươi nhăm phút của một giờ, tôi nên nói vậy. Sau đó một tiếng chuông rung. Luật sư rời khỏi chỗ tôi, nói:

“Người đại diện của bồi thẩm đoàn sẽ đọc to những câu trả lời. Cậu sẽ được gọi ra sau khi có lời phán quyết”.

Vài cánh cửa đóng sầm. Tôi nghe mọi người vội vã bước xuống cầu thang, nhưng không thể nói rõ họ ở gần hay xa. Sau đó tôi nghe một giọng nói xa trầm trong phòng xử án.

Khi tiếng chuông reo lần nữa và tôi bước trở lại vành móng ngựa, không khí im lặng của tòa án quấn chặt quanh tôi, và với sự im lặng đến một tinh thần kì lạ khi tôi nhận ra rằng, đây là lần đầu tiên cậu phóng viên trẻ đã nhắm mắt quay đi. Tôi đã không nhìn hướng tới Marie. Thực tế, tôi không có thời gian để nhìn, khi phán xử đã bắt đầu tuyên bố bằng mô tả lẫn lộn, để kết cục là, “nhân danh nhân dân Pháp” tôi sẽ bị chặt đầu trước công chúng.

Sau đó, dường như đối với tôi, tôi có thể hiểu được ánh nhìn từ những gương mặt của họ lúc này; nó hầu hết là một trong những cảm thông kính trọng. Các cảnh sát cũng đỡ tôi rất dịu dàng. Luật sư đặt tay gã lên cổ tay tôi. Tôi đã dừng lại không nghĩ ngợi gì cả. Tôi nghe thấy giọng của quan tòa hỏi tôi có điều gì nữa để nói không. Sau khi nghĩ một lát, tôi trả lời, “không”. Sau đó, cảnh sát dẫn tôi đi.

(Hết chương IV, phần II)

Còn tiếp

(*) Hóa ra Meursault không hề bị tâm thần. Có tâm thần chăng là do cái nhìn của những con người bình thường, những con người săm soi dự tòa, nhất quyết phải nhìn ra, đã giết người thì phải làm sao đó. Camus cứ tà tà kể. Dưới mắt nhìn của một Camus, cậu thanh niên kia không còn khả năng để chống lại những gì phiên tòa đã sắp đặt với chàng. Camus không lên án ai, nhưng mọi thứ nó cứ hiển hiện ra thật rõ. Sao nhỉ, một bị cáo không quan tâm tới định đoạt số phận của chính mình tại phiên tòa quan trọng, mà lại quan tâm tới âm thanh, tiếng động của cuộc sống vẳng tới từ bên ngoài. Ờ mà thanh niên đó, yêu cuộc sống tới vô ngần, nhưng không thể nào nói nổi một câu để biện minh cho chính mình.

Còn một chương nữa thôi là sẽ khép lại số phận của một con người, một nhân vật chính mà Camus đã viết từ năm 1942. Điều đáng nói ở đây, sau đó 4 năm, ở nước Mỹ xa xôi, Gilbert cũng dường như quá thấu hiểu và dịch lại cho người đọc hiểu được một Camus nhân sinh, cụ tỉ. Năm 1989 có thêm Ward, rồi năm 2013 cũng còn một bản dịch mới của “L’Estranger” của Camus. Sau khi có mặt trên kệ sách 15 năm sau, “Người lạ” của Camus được trao giải Nobel.

15 năm đủ để vinh danh một tác phẩm, nhưng có lẽ mất nhiều năm sau để độc giả hiểu được những dư vị của một tác phẩm “ngọt ngào”.

Một bác nhà văn đáng kính có cảnh báo mình rằng: Camus cũng như Shakespears, chẳng ai quan tâm là ai dịch, dịch thế nào nữa rồi. Nhưng dầu sao, để mang đến một Camus đúng nghĩa (hi vọng thế), thật khó làm sao. Và mình đang thật cố gắng. Cảm ơn nhiều sự động viên, và nhiều lời chỉ giáo.