Người lạ (tiếp theo 20)

15685

Tiểu sử đầy đủ về Camus. Nguồn ảnh: Goodreads.

NGƯỜI LẠ

Albert Camus

Dựa theo bản dịch tiếng Anh từ tiếng Pháp của Stuart Gilbert (N.H.T chuyển ngữ (*)/Phần 2/Tiếp)

>> Phần trước

IV

LUÔN LUÔN thú vị, thậm chí cả trên bục của bị cáo, để nghe bản thân nói về mình. Và chắn chắn trong những bài phát biểu của luật sư bào chữa cho tôi và luật sư bên nguyên một lí tưởng tuyệt vời là nói về tôi; hơn nữa, trong thực tế, về cá nhân con người tôi hơn là về tội lỗi của tôi.

Thực sự cũng không có bất cứ sự khác biệt lớn lao nào lắm giữa hai bản luận tội. Luật sư biện hô giơ cánh tay của gã lên tận trời xanh và cam kết tội lỗi, nhưng với nhiều tình tiết giảm nhẹ. Ủy viên công tố có những cử chỉ tương tự; ông đồng ý rằng tôi phạm tội, nhưng phủ nhận những tình tiết giảm nhẹ.

Một điều về công đoạn này của phiên tòa có phần tẻ nhạt. Thường là, thú vị khi tôi là những gì họ đang nói tới, tôi đã cố gắng nói gì đó, về bản thân mình. Nhưng luật sư của tôi đã khuyên tôi đừng. “Cậu không nên làm vậy trong trường hợp của cậu dù tốt để nói”, gã đã cảnh báo tôi. Thực tế, dường như có một thông đồng để loại tôi khỏi mọi tiến trình tòa án; Tôi đã không có gì phải nói và định mệnh của tôi đã bị quyết định ngoài tầm với của tôi rồi.

Hoàn toàn là một sự cố gắng nhiều lần đối với tôi, cố kiềm chế việc để sự việc tất cả đều ngắn gọn, và nói: “Nhưng, thật đốn mạt, ai là người được xử trong phiên tòa này, tôi muốn được biết? Đó là một vấn đề nghiêm trọng đối với một con người, bị kết tội giết người. Và tôi có vài điều thực sự quan trọng để nói với mọi người”.

Tuy nhiên, ý nghĩ trong một giây, tôi nhận ra tôi chẳng có gì để nói. Trong bất cứ trường hợp nào, tôi phải thú nhận nghe bản thân nói về mất mát thú vị hơn nhiều. Đặc biệt là, bài phát biểu của Ủy viên công tố, bắt đầu làm tôi buồn tẻ trước khi ông đi được nửa hành trình. Có những điều thực sự chỉ gây được sự chú ý của tôi là những quãng nghỉ tình cờ, thái độ của ông, và một vài chỉ trích kĩ lưỡng của ông – nhưng nhưng thứ này là những mảng miếng vá loang lổ cô độc.

Ông ta đang hướng tới điều gì, tôi tóm lược, là chỉ ra tội lỗi của tôi, đã suy tính trước. Tôi nhớ lời nói của ông khoảnh khắc đó, “Tôi có thể chứng minh điều này, những quí ông đáng kính của bồi thẩm đoàn, thấu đáo đến tận cùng. Thứ nhất, các ông đã có những cứ liệu về việc phạm tội; mọi thứ đã rõ ràng như ánh sáng của ban ngày. Và tiếp đến các ông đã có những gì mà có lẽ tôi gọi là khía cạnh bóng đêm của vụ án này, kết quả mờ ám của một tội phạm tâm thần”.

Ông ta bắt đầu tóm lược những cứ liệu, từ cái chết của mẹ tôi. Ông ta nhấn mạnh điểm không có trái tim của tôi, không biết tới tuổi của mẹ, chuyến đi tới bể bơi của tôi nơi tôi đã gặp Marie, buổi biểu diễn tại rạp chiếu phim nơi có bộ phim của Fernandel đang trình chiếu, và cuối cùng sự trở lại của tôi với Marie tại phòng tôi. Đầu tiên, tôi đã hoàn toàn không thể theo được những điểm mốc của ông, khi ông tiếp tục nhấn mạnh về “quí cô của bị cáo” bởi vì đối với tôi cô ấy chỉ là thể là “Marie”. Sau đấy, ông nói về chủ đề của Raymond. Với tôi dường như cái cách ông lừa mị thực tế chỉ ra một sự khôn ngoan chắc chắn. Ông nói tất thảy đều nghe có vẻ hoàn toàn hợp lí. Tôi đã viết một bức thư, toàn bộ về Raymond để mời gọi bạn gái của anh ta tới phòng và chỉ cho thấy cô nàng đã ứng xử-tồi bởi một người đàn ông “tiếng tăm chả minh bạch chút nào”. Sau đó, trên bãi biển, tôi nhớ lại vụ đánh lộn với những kẻ thù của Raymond, kết cục Raymond đã bị thương. Tôi hỏi anh ta về khẩu súng ngắn ổ xoay và tôi tự trở lại với ý định sẽ sử dụng nó. Tiếp đến tôi bắn tên A rập. Sau phát súng đầu tiên tôi ngừng lại. Sau thì, “để chắc chắn hoàn thành được tốt công việc”, tôi đã nhả bốn phát đạn liên tục, không-chủ đích, và thật lạnh lùng, vào nạn nhân của tôi.

“Đó là chứng cớ của tôi”, ông nói. “Tôi đã mô tả với các ngài hàng chuỗi sự kiện dẫn người đàn ông này bắn vào xác chết, cảnh báo toàn tập về những gì cậu ta đang làm. Tôi nhấn mạnh điểm này. Chúng tôi không suy xét tới một hành động của giết người mà bị bỏ tù vì hành động bốc đồng đột ngột có lẽ sẽ được xem xét như một tình tiết giảm nhẹ. Tôi nhắc các ngài ghi nhớ, những quí ông của bồi thẩm đoàn, rằng tù nhân này là một người đàn ông có học. Các ngài đã dõi theo cách cậu ta đã trả lời các câu hỏi của tôi; cậu ta thông minh và cậu ta biết được giá trị của ngôn từ. Và khi tôi nhắc lại là hoàn toàn khó có khả năng để giả bộ rằng, khi cậu ta đã khẳng định việc phạm tội, cậu ta không ý thức về những gì cậu ta đang làm”.

Tôi nhận ra ông xoáy mạnh vào “trí thông minh” của tôi. Điều này khiến tôi thắc mắc tại sao lại được coi như là một điểm tốt đối với một con người bình thường nhưng vẫn vậy thôi lại trở thành chống đối một người đàn ông bị kết án, bởi đó là một bằng cớ bao trùm về tội lỗi của anh ta. Trong lúc nghĩ cho ra vấn đề này, tôi bỏ lỡ những gì ông nói tiếp theo, cho tới khi tôi nghe thấy ông cảm thán đầy căm phẫn: “Và liệu cậu ta có thốt ra một từ nào hối lỗi cho hành động tội lỗi bỉ ổi nhất của cậu ta? Không một lời nào, thưa các quí ngài. Không một lần trong mọi tiến trình của tòa án người đàn ông này ít nhất có một lần chỉ ra có ăn năn?”.

Quay hẳn về phía vành móng ngựa, ông chỉ ngón tay vào tôi, và tiếp tục giọng căng thẳng như vậy. Tôi thực sự không thể hiểu tại sao ông lại nhay đi nhay lại điểm này quá nhiều. Tất nhiên, tôi có hiểu rằng ông đúng; tôi đã không cảm giác hối lỗi nhiều lắm cho những gì tôi đã làm. Song, đối với suy nghĩ của riêng tôi ông đã làm quá nó lên, và tôi muốn có một cơ hội giải thích với ông, trong tư cách hầu như tình cảm nhất, hoàn toàn thân thiện, rằng tôi chưa từng bao giờ thực sự phải hối lỗi điều gì trong tất cả cuộc đời tôi. Tôi luôn luôn ở xa đến mức mê mải trong khoảnh khắc hiện tại, hoặc tương lai tức thời, để nghĩ lại. Dĩ nhiên, ở vị trí tôi đã bị đẩy tới, không có một câu hỏi nào bằng giọng của tôi đến một ai với âm lượng ấy. Tôi đã không có quyền chỉ ra bất cứ cảm nhận thân tình hay sở hữu bất cứ ý định tốt đẹp nào. Và tôi cố để theo dõi điều gì tiếp theo, khi Ủy viên công tố đang băn khoăn cái mà ông gọi là “linh hồn” của tôi.

Ông nói ông đã nghiên cứu nó rất kĩ – và đã tìm ra một khoảng trống, “chả có ý nghĩa gì cả, thưa quí ngài trong bồi thẩm đoàn”. Thực là, ông nói, tôi không có linh hồn, chẳng có một loại người nào như tôi, không có một ai có những tính cách đạo đức như thế mà những người đàn ông bình thường sở hữu một được vị trí trong tâm trí tôi. “Không nghi ngờ gì nữa”, ông kết luận, “chúng ta không nên làm cậu ta xấu hổ vì điều này. Chúng ta không thể đổ lỗi cho một người đàn ông bởi thiếu cái gọi là chưa từng có trong khả năng của cậu ấy để đòi hỏi. Nhưng trong một phiên tòa tội phạm với lí tưởng của tha thứ tất thảy, cần phải có một vị trí đạt công lí hoàn hảo cao quí hơn, cứng rắn hơn. Đặc biệt là sự thiếu thốn mọi bản năng tử tế kiểu như người đàn ông này trước các ngài, một sự đe dọa đối với xã hội”. Ông vượt tới bàn cả đạo đức của tôi với mẹ tôi, nhắc lại rằng ông đã nói trong cả phiên tòa nghe thấy. Nhưng ông nói  với mức độ phạm tội của tôi khủng khiếp hơn nhiều  – và cả thời gian thực hiện, thật ra, tôi đã mất đầu mối và chỉ đủ tính táo để chống chọi với cái nóng ngày càng tăng lên rõ rệt.

Mỗi khoảnh khắc khi Ủy viên công bố ngừng lại, và sau một khoảng im lặng ngắn, ông nói trong một giọng bật, thấp: “Đây là phiên tòa tương tự, thưa các quí ông, sẽ được gọi vào xử ngày mai cũng là kiểu tội phạm ghê tởm nhất, vụ con trai giết cha”. Đối với tâm trí của ông, loại tội phạm kiểu này không thể nào tưởng tượng nổi. Nhưng, ông mạo muội hi vọng, công lí sẽ phải được thực thi chứ không thể bỏ qua. Và song, ông nhấn mạnh nói, sự khủng khiếp thậm chí kiểu tội phạm con giết cha hay mẹ làm ông nhợt nhạt bên cạnh đó căm thù đem lại sự nhẫn tâm trong tôi.

“Người đàn ông này,  là người phạm tội đạo đức đối với cái chết của mẹ cậu ta, không còn phù hợp chút nào để có được một chỗ đứng trong cộng đồng hơn người đàn ông kia đã giết cha để bảo tồn bản thân. Và, thực ra, hành động tội lỗi của người này có ảnh hưởng tới người kia; trước tiên trong hai loại tội phạm này, người đàn ông đang đứng trên vành móng ngựa đây, được xử trước, và nếu có thể tôi nói mạnh, vụ án thứ hai cũng tương tự. Vâng, các ngài yêu quí, tôi đảm bảo” – lúc này giọng ông dâng lên một mức nữa – “các ngài sẽ phải thấy là tôi đã không xử quá trường hợp này nhằm chống lại bị cáo khi tôi nói rằng, cậu ta phạm cũng tội giết người chính tại phiên tòa này xử vào ngày mai. Và tôi mong các ngài ra một lời phán quyết chính xác”.

Ủy viên công tố dừng lại một lần nữa, để lau mồ hôi khỏi gương mặt ông. Sau đó ông giải thích, nhiệm vụ của ông là một nhiệm vụ đau đớn, nhưng ông sẽ vẫn làm nó mà không lưỡng lự. “Người đàn ông này, tôi nhắc lại, không có một chỗ đứng trong một cộng đồng với những nguyên tắc cơ bản, cậu ta đã lăng nhục mà không ăn năn gì. Không, người không có trái tim là cậu ta, không xứng đáng được nhận hạnh phúc. Tôi yêu cầu các ngài thực thi luật pháp mà không đánh tráo khái niệm; và tôi yêu cầu xử ngay không e sợ. Trong một thời gian dài theo đuổi nghề nghiệp của mình, ở đây tôi thường có trách nhiệm yêu cầu xử tử hình, chưa từng khi nào tôi cảm thấy trách nhiệm đớn đau có chút nặng nề trong tâm trí tôi như vụ án này. Để đòi hỏi một lời phán quyết phạm tội mà không có bất cứ tình tiết giảm nhẹ nào, tôi theo đuổi nó không chỉ thấy rõ sự tỉnh táo của tôi và một nghĩa vụ bất khả xâm phạm, nhưng cũng là một trong những sự phẫn nộ đúng đắn và tự nhiên tôi cảm không lóe lên chút gì cảm nhận của loài người”.

Khi Ủy viên Công tố ngồi xuống có một khoảng lặng dài nhất. Cá nhân tôi hoàn toàn đã vượt qua bởi cái nóng và điều vui thú mà tôi đã và đang nghe được. Quan tòa phán xử đã ho ngắn, và hỏi tôi với một giọng thấp, tôi còn điều gì để nói. Tôi đứng dậy, và tôi ở trong tâm trạng tôi muốn nói, tôi nói điều đầu tiên xuất hiện qua trí não tôi: Tôi không có ý định giết người A rập. Quan tòa đáp lại, điều này có thể sẽ được tòa án xem xét. Trong khi vui khi nghe điều đó, trước khi luật sư biện hộ của tôi nói với tòa, những động lực nào khiến tôi phạm tội. Hơn nữa, gã phải thú nhận, gã hoàn toàn không hiểu được nền tảng sự bảo vệ bạn của tôi.

Tôi đã cố gắng giải thích đó là bởi vì mặt trời, nhưng tôi đã nói quá nhanh và những lời của tôi đã chạy xô vào nhau. Tôi chỉ còn cố tỉnh táo để những âm thanh không quá vô nghĩa, và, trong thực tế, tôi nghe thấy mọi người đang xì xào.

Luật sư của tôi nhún vai. Sau đó gã trực tiếp biện hộ trước tòa, khi đến lượt gã. Nhưng tất cả gã làm là chỉ ra đã muộn giờ và đề nghị được hoãn phiên tòa cho tới buổi chiều hôm sau. Với điều này quan tòa đồng ý.

Khi tôi được mang trở lại tòa ngày hôm sau, những chiếc quạt điện vẫn tiếp tục quay vòng tít trong không khí nặng nề và những người đàn ông của bồi thẩm đoàn đang miệt mài những chiếc quạt tay nhỏ bé sặc sỡ trong một nhịp điệu chắc chắn. Lời biện hộ của luật sư dường như đối với tôi dài vô tận. Tại một khoảnh khắc, tuy nhiên, tôi đã lãng tai mình ra; là lúc tôi nghe thấy luật sư nói: “Đây là sự thật tôi đã giết người”. Gã tiếp tục với một sự căng thẳng đều đều, nói “tôi” khi gã đề cập tới tôi. Điều này dường như quá kì lạ để tôi quì trước cảnh sát bên phải tôi và yêu cầu ông cho tôi giải thích. Ông bảo tôi câm miệng; sau đó, sau khoảnh khắc ấy, thì thầm: “Họ đã làm tất cả điều đó”. Dường như đối với tôi đó là ý tưởng nằm phía sau, nó đẩy xa tôi ra khỏi hẳn phiên tòa, đẩy tôi lạc khỏi quĩ đạo. Để nói rằng, luật sư đã thay thế cho bản thân tôi. Dầu sao, đó là cả một vấn đề nặng nề; tôi thực sự cảm thấy những thế giới đã xa rời khỏi phiên tòa này và “những tiến trình” tẻ nhạt của nó.

Luật sư của tôi, dầu trong trường hợp nào, đẩy tôi vừa nhu nhược vừa đáng nhạo.  Gã ào ào lời biện hộ đầy khiêu khích của gã, và sau đó, gã cũng bắt đầu nói về linh hồn tôi. Nhưng tôi có một ấn tượng gã ít tài năng hơn nhiều so với Ủy viên Công tố.

“Tôi cũng”, gã nói, “có một nghiên cứu chặt chẽ về tâm hồn của người đàn ông này; nhưng, không giống với bạn học của tôi về khởi tố khởi kiện, tôi đã tìm được một vài điều ở đây. Thực sự, tôi có thể nói rằng tôi đã đọc được tâm trí của thân chủ tôi trong một cuốn sách mở”. Những gì gã đọc được về tôi ở đó là tôi là một chàng trai trẻ tuyệt vời, một công chức tận tâm, chắc chắn, người có thể làm những điều tốt nhất cho ông chủ của mình; rằng tôi quảng giao với mọi người và cảm thông với những rắc rối của người khác. Theo gã, tôi là một người con trai có trách nhiệm, người đã giúp đỡ mẹ của mình trong một thời gian mà tôi có thể. Sau suy xét căng thẳng tôi đã đưa đến một kết luận, bước về nhà, mẹ già đã hài lòng với những gì tôi chuẩn bị, bà cấm tôi đã cung cấp thêm cho bà. “Tôi là một kinh ngạc, thưa quí ngài bồi thẩm đoàn”, gã nói thêm, “bằng thái độ của những người bạn học của tôi có nói tới trong Viện Dưỡng lão. Chắc chắc là nếu cần chứng minh điều tuyệt hảo của những viện giống như thế này, chúng tôi chỉ cần nhớ rằng họ đang được khuyến khích và hỗ trợ tài chính bởi bộ phận của chính phủ”. Tôi nhận thấy rằng gã đã không đề cập gì tới đám tang, và điều này dường như đối với tôi là một sự loại trừ nghiêm trọng. Nhưng, với những gì gã nói một mạch, những ngày và những giờ không có hồi kết đều đã và đang bàn về “tâm hồn” của tôi, và phần còn lại là, tôi nhận ra tâm trí của tôi đã trở nên lờ mờ; mọi thứ đang dần dần biến thành một sự mơ hồ, sương mù, xám xịt.

Chỉ có một tình tiết lóe lên; đến tận cùng, trong khi luật sư bảo vệ tôi đang rông dài, tôi nghe thấy tiếng kèn thiếc của một người bán kem dạo trên phố, một tiếng động nhỏ ré lên cắt ngang qua dòng của những ngôn từ. Và sau đó một sự vội vã của những kí ức đã quan tâm trí tôi – những kí ức của một cuộc đời đã từng là của tôi không lâu nữa đã và đang một lần cung cấp cho tôi những vui thú bình dị nhất, chắc chắn nhất: Những mùi vị ấm áp của mùa hè, những con phố yêu thích của tôi, bầu trời vào đêm, những chiếc váy của Marie và tiếng cười to của nàng. Chẳng còn khát vọng thành công vào những gì đang xảy ra ở đây, dường như đã khiến mọi thứ dâng lên cổ tôi, tôi cảm giác giống như đang nôn, và tôi chỉ có một ý tưởng: Để mọi thứ qua đi, để quay lại buồng giam, và ngủ… rồi ngủ.

Mơ hồ tôi nghe luật sư biện hộ cho tôi đưa ra những chứng cứ cuối cùng.

“Những quí ngài của bồi thẩm đoàn, chắc chắn các ông sẽ không buộc một thanh niên chăm chỉ làm việc, tử tế phải chết chứ, bởi vì một khoảnh khắc thảm họa cậu ấy đã mất kiểm soát? Cậu ấy không bị phạt một cách đáng kể bởi hối lỗi cả đời cho những mất mát mà cậu ấy phải chịu ư? Tôi tin tưởng chờ đợi phán quyết của các ngài, chỉ phán quyết có thể – vụ giết người với nhiều tình tiết giảm nhẹ”.

Phiên tòa tạm nghỉ, luật sư ngồi xuống nhìn trông khá kiệt sức. Một trong những đồng nghiệp của gã đến gặp và bắt tay gã. “Cậu đã có một buổi trình bày đáng nể, cậu bạn già à?”, tôi nghe thấy một trong bọn họ nói vậy. Một luật sư khác gọi tôi tới đối chứng: “Tốt, phải không nào”. Tôi đồng ý nhưng không thật sự chân thành; tôi đã quá mệt mỏi để phán xét nó là “tốt” hay không nữa rồi.

Trong khi ngày đã qua và sức nóng đã trở nên bớt hơn rồi. Bởi vài tiếng động mơ hồ vọng tới tôi, tôi biết mát mẻ của đêm đã bắt đầu. Tất cả chúng tôi ngồi xuống, chờ đợi. Và điều tất cả chúng tôi đang chờ đợi thực sự không liên quan đến ai khác trừ tôi. Tôi nhìn quanh phòng xử án. Tôi gặp những ánh mắt của các phóng viên màu xám và ả người máy. Điều này nhắc nhở tôi rằng không chỉ một lần trong suốt quá trình nghe xử tôi cố gắng bắt được ánh nhìn của Marie. Nó không phải là tôi đã quên nàng; chỉ vì tôi bị bao vây quá. Tôi nhìn thấy nàng lúc này, ngồi giữa Céleste và Raymond. Nàng vẫy tay nhẹ về phía tôi, dường như nói, “Gần kết thúc rồi!”. Nàng đang mỉm cười, nhưng tôi có thể nói rằng nàng đang lo lắng ghê gớm. Nhưng trái tim tôi dường như hóa đá, và tôi thậm chí không thể mỉm cười đáp lại nàng.

Các quan tòa, bồi thẩm trở lại chỗ ngồi. Ai đó đọc to cho bồi thẩm đoàn, rất nhanh, một chuỗi câu hỏi. Tôi bắt được từ vựng lúc được lúc không. “Cố tình phạm tội chống đối lại luật pháp… Khiêu khích… Những tình tiết giảm nhẹ”. Bồi thẩm đoàn ra ngoài, và tôi được dẫn vào một phòng nhỏ nơi tôi đã chờ đợi. Luật sư của tôi đến gặp tôi; gã nói rất rất nhiều và chỉ rõ thân tình lịch thiệp và tin tưởng hơn trước đây nhiều. Gã trấn an tôi, mọi thứ đang tốt đẹp và tôi sẽ được thả sau vài năm ở tù hoặc thuyên chuyển. Tôi hỏi gã những cơ hội kết án tử hình liệu đã miễn nhiễm. Gã đáp không có chuyện kết án tử hình. Gã không nêu được bất cứ quan điểm luật nào, trong khi điều này phụ thuộc vào quyết định của bồi thẩm đoàn. Và thật khó để có một sự phán quyết đưa ra từ những nền tảng kĩ thuật. Tôi nhìn thấy quan điểm của gã, và đồng ý nhìn vấn đề một cách thiếu đam mê, tôi chia sẻ góc nhìn của gã. Hoặc không sẽ chẳng đi được tới quyết định cuối cùng. “Trong mọi tình huống”, luật sư nói, “cậu có thể bộc lộ bình thường. Nhưng tôi được rõ lời phán quyết có thể chấp nhận được.

Chúng tôi chờ thêm một chốc, khoảng bốn mươi nhăm phút của một giờ, tôi nên nói vậy. Sau đó một tiếng chuông rung. Luật sư rời khỏi chỗ tôi, nói:

“Người đại diện của bồi thẩm đoàn sẽ đọc to những câu trả lời. Cậu sẽ được gọi ra sau khi có lời phán quyết”.

Vài cánh cửa đóng sầm. Tôi nghe mọi người vội vã bước xuống cầu thang, nhưng không thể nói rõ họ ở gần hay xa. Sau đó tôi nghe một giọng nói xa trầm trong phòng xử án.

Khi tiếng chuông reo lần nữa và tôi bước trở lại vành móng ngựa, không khí im lặng của tòa án quấn chặt quanh tôi, và với sự im lặng đến một tinh thần kì lạ khi tôi nhận ra rằng, đây là lần đầu tiên cậu phóng viên trẻ đã nhắm mắt quay đi. Tôi đã không nhìn hướng tới Marie. Thực tế, tôi không có thời gian để nhìn, khi phán xử đã bắt đầu tuyên bố bằng mô tả lẫn lộn, để kết cục là, “nhân danh nhân dân Pháp” tôi sẽ bị chặt đầu trước công chúng.

Sau đó, dường như đối với tôi, tôi có thể hiểu được ánh nhìn từ những gương mặt của họ lúc này; nó hầu hết là một trong những cảm thông kính trọng. Các cảnh sát cũng đỡ tôi rất dịu dàng. Luật sư đặt tay gã lên cổ tay tôi. Tôi đã dừng lại không nghĩ ngợi gì cả. Tôi nghe thấy giọng của quan tòa hỏi tôi có điều gì nữa để nói không. Sau khi nghĩ một lát, tôi trả lời, “không”. Sau đó, cảnh sát dẫn tôi đi.

(Hết chương IV, phần II)

Còn tiếp

(*) Hóa ra Meursault không hề bị tâm thần. Có tâm thần chăng là do cái nhìn của những con người bình thường, những con người săm soi dự tòa, nhất quyết phải nhìn ra, đã giết người thì phải làm sao đó. Camus cứ tà tà kể. Dưới mắt nhìn của một Camus, cậu thanh niên kia không còn khả năng để chống lại những gì phiên tòa đã sắp đặt với chàng. Camus không lên án ai, nhưng mọi thứ nó cứ hiển hiện ra thật rõ. Sao nhỉ, một bị cáo không quan tâm tới định đoạt số phận của chính mình tại phiên tòa quan trọng, mà lại quan tâm tới âm thanh, tiếng động của cuộc sống vẳng tới từ bên ngoài. Ờ mà thanh niên đó, yêu cuộc sống tới vô ngần, nhưng không thể nào nói nổi một câu để biện minh cho chính mình.

Còn một chương nữa thôi là sẽ khép lại số phận của một con người, một nhân vật chính mà Camus đã viết từ năm 1942. Điều đáng nói ở đây, sau đó 4 năm, ở nước Mỹ xa xôi, Gilbert cũng dường như quá thấu hiểu và dịch lại cho người đọc hiểu được một Camus nhân sinh, cụ tỉ. Năm 1989 có thêm Ward, rồi năm 2013 cũng còn một bản dịch mới của “L’Estranger” của Camus. Sau khi có mặt trên kệ sách 15 năm sau, “Người lạ” của Camus được trao giải Nobel.

15 năm đủ để vinh danh một tác phẩm, nhưng có lẽ mất nhiều năm sau để độc giả hiểu được những dư vị của một tác phẩm “ngọt ngào”.

Một bác nhà văn đáng kính có cảnh báo mình rằng: Camus cũng như Shakespears, chẳng ai quan tâm là ai dịch, dịch thế nào nữa rồi. Nhưng dầu sao, để mang đến một Camus đúng nghĩa (hi vọng thế), thật khó làm sao. Và mình đang thật cố gắng. Cảm ơn nhiều sự động viên, và nhiều lời chỉ giáo.

 

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s