Người lạ (tiếp theo 19)

camus-fumando-1024x706

Albert Camus. Nguồn ảnh: Internet.

NGƯỜI LẠ

Albert Camus

Dựa theo bản dịch tiếng Anh từ tiếng Pháp của Stuart Gilbert (N.H.T chuyển ngữ (*)/Phần 2/Tiếp)

>> Phần trước

 

Phần II

III

TỔNG THỂ  thì tôi không thể nói rằng những tháng này qua đi chậm rãi; mùa hè khác đang trên đường tới nơi rồi trước khi tôi nhận ra mùa hè đầu tiên đã qua. Và tôi biết rằng với những ngày đầu tiên thật sự nóng, một điều gì mới đang tích trữ trong tôi. Trường hợp của tôi đã đi tới những phần cuối của phiên tòa đại hình, những thủ tục này sẽ có hạn kết thúc vào thời gian nào đó trong tháng Sáu.

Cái ngày phiên tòa luận tội của tôi bắt đầu là một trong những ngày nắng trời rực rỡ. Luật sư của tôi thông báo với tôi phiên tòa chỉ mất hai hoặc ba ngày. “Đó là tôi nghe thấy thế”, luật sư nói, “phiên tòa sẽ xử trường hợp của cậu càng nhanh càng tốt, bởi đây không phải là một trường hợp quan trọng nhất trong Danh sách các vụ án. Ngay sau đây là trường hợp kẻ giết cha, vụ này mới mất nhiều thời gian”.

Họ đến gặp tôi lúc bảy rưỡi sáng và tôi bị áp giải tới tòa án pháp luật trong một chiếc xe bán tải của nhà tù. Hai cảnh sát nam dẫn tôi vào trong một phòng nhỏ ở đó ngửi ra mùi của bóng tối. Chúng tôi ngồi gần một cửa đi mà những âm thanh giọng nói, tiếng quát, kéo ghế trên sàn có thể lọt ra ngoài; một tiếng huyên náo mơ hồ đánh thức tôi về một trong những “xã hội” của thị trấn bé nhỏ này lúc buổi hòa nhạc đã qua đi, sảnh phòng đã sạch bong để dành cho nhảy nhót.

Một trong hai cảnh sát áp giải của tôi nói với tôi, các chánh án chưa tới, họ cho tôi một điếu thuốc lá, nhưng tôi từ chối. Sau một lát cảnh sát hỏi tôi, có cảm giác lo lắng không. Tôi đáp, “không” và triển vọng là những nhân chứng trong phiên tòa dàn dựng khiến tôi thích thú hơn; Tôi chưa bao giờ có dịp dự một phiên như vậy.

“Có lẽ”, cảnh sát khác nói, “Nhưng chỉ một hay hai giờ thôi là thấy đủ khác”.

Sau một lát một chiếc chuông điện nhỏ rung lên trong phòng. Họ tháo còng tay của tôi, mở cửa, và dẫn tôi lên bục của tù nhân.

Có một đám đông lớn trong phòng xử án. Thông qua những tấm mành mành thả xuống, ánh sáng lọt qua những kẽ hở, và không khí đã vô cùng ngột ngạt. Những chiếc cửa sổ vẫn đóng chặt. Tôi ngồi xuống, và nhân viên cảnh sát đứng mỗi bên cạnh ghế của tôi.

Sau đó tôi nhận ra có một hàng những gương mặt đối diện tôi. Những con người này đang nhìn chằm chằm khó nhọc vào tôi, và tôi đoán họ là bồi thẩm đoàn. Nhưng tôi không thể nhìn thấy họ như những cá nhân. Tôi cảm giác như bạn vừa mới lên một chiếc xe đò và bạn cảnh giác trước tất cả những người đang ngồi ghế đối diện nhìn chằm chằm vào bạn với hi vọng tìm thấy điều gì đó trong vẻ bề ngoài của bạn khiến họ buồn cười. Tất nhiên, tôi biết đây là một sự so sánh khập khiễng; những con người này đang tìm kiếm ở tôi điều gì đó chứ không phải cái gì để đáng cười to, những tín hiệu của phạm tội. Song, sự khác nhau không quá lớn lắm, và, dầu sao, đó là ý tưởng tôi có lúc đó.

Với đám đông và không khí bức bối tôi đang cảm thấy hơi ong ong. Tôi đưa mắt mình xa khỏi tòa án nhưng không thể nào nhận ra bất cứ gương mặt nào. Ban đầu tôi khó có thể tin tất cả những con người này đến để dự phiên tòa của tôi. Nó kiểu như kinh nghiệm mới, trở nên tập trung vào một sở thích; trong một cách thông thường không một ai được trả tiền nhiều để chú ý tới tôi.

“Đông khiếp nhỉ!”, tôi ghi nhận với cảnh sát bên trái tôi, và cảnh sát giải thích báo chí có trách nhiệm về điều này.

Cảnh sát chỉ vào một nhóm người đàn ông tại một cái bàn ngay phía dưới ô của bồi thẩm đoàn. “Họ đấy!”.

“Ai cơ?”, tôi hỏi, và cảnh sát đáp, “Báo chí”. Một trong họ, cảnh sát nói thêm, là một người bạn già của anh.

Lúc sau, người đàn ông mà cảnh sát chỉ đã nhìn tới chúng tôi và bước tới bục tù nhân, bắt cả hai tay đầy thân mật với cảnh sát. Phóng viên là một người đàn ông trung niên với một biểu hiện hơi dữ tợn, nhưng thái độ của ông thì hoàn toàn bình thản. Chỉ khi tôi nhận ra hầu hết con người trong phòng xử án đang chào hỏi lẫn nhau, trao đổi thông tin và hình thành nên các nhóm – đối xử với nhau, trong thực tế, giống như trong một câu lạc bộ nơi một nhóm người có chung sở thích và đứng với nhau khiến ai đó lúng túng. Vâng, không nghi ngờ gì nữa, để giải thích ấn tượng không giống ai tôi trở thành người thừa ở đây, một kiểu kẻ-đạp-đổ-cổng.

Tuy nhiên, phóng viên đối xử với tôi hoàn toàn dễ thương, và nói ông hi vọng tất cả sẽ tốt đẹp đối với tôi. Tôi cảm ơn ông, và ông nói thêm với một nụ cười:

“Cậu biết đấy, chúng tôi đã làm phóng sự về cậu đôi chút. Chúng tôi luôn luôn có một ấn bản ngắn trong mùa hè, và có chút đáng giá để viết về trường hợp ngoài lề của cậu và phiên tòa sau đó. Tôi hi vọng cậu đã nghe về nó; trường hợp con giết cha”.

Ông kéo sự chú ý của tôi tới một trong các nhà báo ở bàn báo chí, một người đàn ông người nhỏ, béo đeo đôi kính to đùng viền đen, người khiến tôi nghĩ là một con chồn được chăm sóc quá mức.

“Anh bạn đó là một phóng viên đặc biệt của một trong những Nhật báo Paris. Vấn đề của thực tế là, anh bạn đó không quan tâm tới trường hợp của cậu. Anh được gửi đến cho vụ con giết cha, nhưng họ cũng yêu cầu anh lo luôn cả trường hợp của cậu”.

Lưỡi tôi lập tức uốn nói: “Họ rất chi là tử tế”, nhưng sau đó tôi lại nghĩ nó giống như ngờ nghệch. Vẫy tay thân ái chào tạm biệt chúng tôi, và một vài phút không có chuyện gì xảy ra.

Sau đó, kết hợp cùng với một vài đồng nghiệp, luật sư của tôi xăng xái, trong bộ quần áo của luật sư. Luật sư bước tới bàn báo chí và bắt tay các nhà báo. Họ tiếp tục cười to và tán chuyện cùng nhau, tất cả dường như rất giống họ đang ở nhà mình lúc này ở đây, cho đến khi tiếng chuông rung lên lảnh lót và mọi người ai vào chỗ của mình. Luật sư của tôi đến chỗ tôi, bắt tay và khuyên tôi trả lời tất cả các câu hỏi một cách càng ngắn gọn càng tốt, không phải thông tin tự nguyện, và nhớ  lựa ý luật sư với mỗi câu trả lời xong.

Tôi nghe tiếng ghế kéo bên trái tôi, và một người đàn ông gày, cao đeo chiếc kính kẹp mũi, áo choàng đỏ khi ông ngồi vào chỗ của mình. Ủy viên công tố, tôi để ý. Một thư kí của phiên tòa tuyên bố Người Đáng kính của họ đang bước vào, và cùng khoảnh khắc đó hai chiếc quạt điện to đùng bật vè vè ngay trên đầu. Ba thẩm phán, hai người mặc áo đen và người thứ ba áo đỏ, với những chiếc va-li tài liệu trong tay họ, bước vào và đi những bước chắc chắn tới chiếc ghế băng dài, chỉ cao hơn một vài feet so với mức sàn của phòng xử án. Người đàn ông mặc áo đỏ ngồi ở chiếc ghế có tựa cao ở giữa, để chiếc mũ văn phòng của ông lên bàn, dùng khăn tay lau chiếc đầu hói nhỏ của ông, và tuyên bố mọi việc bắt đầu lúc này.

Các phóng viên đã sẵn sàng bút bút bi của họ; Tất cả họ mặc phía ngoài không khác gì nhau hơi cứng nhắc, trừ một người, một người đàn ông trẻ hơn những đồng nghiệp của anh, diện sơ mi sợi tổng hợp màu xám thắt cà vạt xanh da trời, anh vừa bỏ chiếc bút máy lại trên bàn, nhìn chằm chằm vào tôi chăm chú. Anh có một gương mặt hơi phính, cân phân; điều gây sự chú ý của tôi là đôi mắt anh, mắt rất trong, mệt mỏi, nhìn trực diện vào tôi, mặc dầu không thể hiện rõ tình cảm gì. Vào một lúc tôi có một ấn tượng kì lại, dường như tôi bị soi xét kĩ bản thân mình. Đó – và thực tế là tôi đã không quen với tiến trình tòa án – có thể giải thích tại sao tôi đã không thể theo kịp nhưng đoạn bắt đầu: nhiều bức kí họa về bồi thẩm đoàn, hàng loạt câu hỏi được quan tòa chủ tọa hỏi ủy viên công tố, chủ tịch ban hội thẩm, và luật sư bào chữa của tôi (mỗi lúc gã nói tất cả đầu của những đàn ông trong bồi thẩm đoàn để rung lên cùng nhau theo chiều chiếc ghế băng), đọc nhanh bảng luận tội, trong phiên tòa tôi nhận ra một vài cái tên giống nhau của con người và nơi chốn cũng giống nhau; sau đó vài câu hỏi bổ trợ được gửi tới cho luật sư của tôi.

Tiếp theo, Quan tòa tuyên bố phiên tòa sẽ gọi hàng loạt nhân chứng theo danh sách. Một vài cái tên được thư kí đọc to lên thậm chí khiến tôi ngạc nhiên. Từ trong đám đông, cho đến giờ tôi nhìn thấy những khối mờ mờ của các gương mặt, mặt này tiếp mặt kia, Raymond, Masson, Salamano, bảo vệ từ Viện dưỡng lão, Pérez già cả, và Marie, nàng mang tới cho tôi một chút lo lắng nhẹ vì cái vẫy tay của nàng trước những người khác ngay từ ngoài cửa. Tôi đang nghĩ lạ lùng làm sao khi tôi chẳng nhận ra họ trước khi tôi nghe thấy cái tên cuối cùng đọc lên, đó là Céleste. Khi anh đứng dậy, tôi nhận ra bên cạnh anh một phụ nữ bé nhỏ xinh lạ mặc chiếc áo khoác của đàn ông và nhanh nhẹn, người đã quyết định không khí, người đã ngồi cùng bàn với tôi tại nhà hàng. Mắt ả đóng cứng vào tôi, tôi đã nhận ra. Nhưng tôi không có thời gian để băn khoăn về ả; Quan tòa đã bắt đầu đặt những câu hỏi tiếp tục.

Quan tòa cho biết phiên tòa giả định thích hợp để bắt dầu, và ông cần nói nghiêm túc, ông hi vọng đám đông cần kiềm chế bất cứ sự căng thẳng nào dù có chuyện gì xảy ra. Ông giải thích ông đang ở đây để kiểm soát tiến trình, như kiểu của trọng tài, và ông sẽ có quan điểm từng phần tỉ mỉ của vụ án này. Lời phán quyết của bồi thẩm đoàn sẽ được ông tuyên bố trong tinh thần của công lí. Cuối cùng, nếu có bất cứ tín hiệu nào gây nhiễu ông sẽ làm rõ tại phiên tòa.

Ngày được đốt nóng hầm hập. Một trong những công dân đang quạt cho bản thân mát bằng những tờ báo, và có tiếng sột soạt đều đặn của tờ báo giấy bị vò nhăn nhúm. Một tín hiệu từ quan tòa chủ tọa, thư kí của phiên tòa mang ba chiếc quạt bện rợm, để ba quan tòa cùng phe phẩy.

Việc thẩm vấn tôi bắt đầu ngay lập tức. Quan tòa đặt câu hỏi cho tôi hoàn toàn bình tĩnh và thậm chí tôi nghĩ, còn có sự thân ái. Đến lần thứ n tôi được hỏi đưa ra chi tiết về nhân thân của tôi, và mặc dầu cảm thấy phát mệt từ tim vì những hình thức kiểu này, tôi nhận ra mọi thứ thật đủ tự nhiên; sau tất cả, sẽ là một điều đáng giật mình nếu phiên tòa đang cố gắng với một người đàn ông sai trái.

Quan tòa sau đó trình ra một tập tài liệu về những gì tôi đã làm, dừng lại sau chừng hai đến ba câu để hỏi tôi,  “Có đúng chứ?” để tôi luôn luôn đáp lời: “đúng thưa ngài” như luật sự đã khuyên tôi. Đó là một tiến trình dài, khi Quan tòa bám vào từng chi tiết. Trong khi các phóng viên bận rộn tốc kí. Nhưng tôi thỉnh thoảng lại tỉnh người bởi đôi mắt của người trẻ nhất chĩa vào tôi; cả ả người máy nhỏ bé lạ kì nữa chứ. Những người trong bồi thẩm đoàn, tuy nhiên, đều tất cả tập trung cả vào phán xét vụ cướp – đỏ, và tôi lại nhắc nhở tới đám khác ngồi một bên như trên một chiếc tàu điện. Hiện tại, ông ho nhẹ, giở một vài trang trong tập tài liệu của ông, và, vẫn còn quạt phe phẩy trên mặt, chú tâm cẩn trọng tới tôi.

Bây giờ ông đề xuất, ông nói, để đào sâu vào những vấn đề chính, trên một góc nhìn nông cạn, có lẽ dường như ngoài phiên tòa, nhưng thực tế có được tương thích cao. Tôi đoán là ông đang nói về Mẹ, và cùng với khoảnh khắc nhận ra tôi đã tìm ra điều này thật đáng ghét thế nào. Câu  hỏi đầu tiên của ông là: Tại sao tôi đã gửi mẹ tới Viện? Tôi đáp lại lí do hoàn toàn đơn giản: Tôi không có đủ tiền và biết bà được chăm sóc đúng đắn ở Viện Dưỡng lão. Sau đó ông hỏi tôi có phải việc chia sẻ không làm tôi đau  buồn quá. Tôi giải thích cả Mẹ và tôi đều không quá kì vọng vào nhau – hoặc, với vấn đề này, với bất kì ai khác nữa; bởi vì cả hai chúng tôi đều quen với những điều kiện mới đủ dễ dàng. Quan tòa sau đó bảo ông không hứa hẹn nhấn mạnh quan điểm, và hỏi Ủy viên công tố nếu như công tố có thể hỏi thêm bất cứ câu hỏi nào với tôi trong giai đoạn này.

Ủy viên công tố, một nửa người quay về phía tôi, nói, không hề nhìn về hướng tôi, rằng tùy theo Phán quyết của Phiên tòa, công tố muốn được biết việc tôi trở lại dòng suối với ý định giết tên A rập. Tôi trả lời, “không”. Trong trường hợp đó, tại sao tôi lấy khẩu súng ngắn đi cùng tôi, và tại sao lại trở lại đúng chính xác thời điểm đó? Tôi đáp lời thuần khiết đó là một vấn đề tình cờ. Công tố sau đó quan sát với giọng cáu kỉnh: “Rất tốt. Rồi tất cả để thế này đây”.

Tôi đã không thể theo dõi hoàn toàn những gì diễn ra tiếp theo. Dầu sao, sau những phiền nhiễu từ chiếc ghế băng, Ủy viên công tố, và luật sư bào chữa của tôi, quan tòa phán xử tuyên  bố phiên tòa lúc này đang lên; nhưng phiên tòa tạm nghỉ cho đến trưa, khi bằng chứng tập trung đủ.

Hầu hết trước đó tôi biết mọi điều gì đang xảy ra tôi được đưa vội ra xe bán tải của nhà tù, đưa tôi trở lại, và tôi được ăn bữa trưa. Sau một thời gian ngắn, chỉ đủ cho tôi nhận thấy tôi đang cảm thấy mệt mỏi thế nào, họ đến gặp tôi. Tôi được đưa trở lại phòng lúc trước, đối mặt với những gương mặt giống hệt, và tất cả mọi thứ bắt đầu lại. Nhưng cái nóng ngày một tăng lên, và bởi một vài người cổ vũ diệu kì được sắp đặt cho mọi người: bồi thẩm đoàn, luật sư của tôi, Ủy viên công tố, và cũng một vài nhà báo nữa. Người đàn ông trẻ và ả người may vẫn còn ở chỗ của họ. Nhưng họ không phe phẩy quạt nữa và , như trước đó, họ chưa bao giờ rời mắt khỏi tôi.

Tôi lau mồ hôi khỏi mặt mình, nhưng tôi hiếm khi tỉnh táo ở một nơi hoặc với ai cho đến khi tôi nghe quản lí Viện Dưỡng lão được gọi đến bục nhân chứng. Khi hỏi mẹ tôi có phàn nàn về cách cư xử của tôi, quản lí đáp, “có”, nhưng không nhiều lắm; hầu hết tất cả những người làm chứng của Viện dưỡng lão có những niềm tin bất lợi chống lại những mối quan hệ của họ. Quan tòa hỏi ông nói rõ thêm và trực tiếp hơn; có phải Mẹ đã phản ứng với tôi việc đưa bà tới Viện Dưỡng lão, và ông đáp: “Đúng”, lần nữa. Nhưng lần này ông đảm bảo được câu trả lời của ông.

Để trả lời câu hỏi khác ông đáp, vào cái ngày đám tang ông đã ngạc nhiên chừng nào về sự bình tĩnh của tôi. Yêu cầu giải thích ông có  ý thế nào “sự bình tĩnh của tôi”, quản lí Viện cụp mắt xuống và nhìn chằm chằm vào hai chiếc giày một lúc. Sau đó ông giải thích, tôi đã không muốn nhìn xác Mẹ, hoặc rỏ một giọt nước mắt, và tôi đã rời đi khỏi ngay lập tức sau khi đám tang kết thúc, không thèm ngó ngàng gì ngôi mộ của bà. Một điều khác nữa đã khiến ông ngạc nhiên. Một trong những điều hành lễ tang đã nói với ông tôi đã không biết tuổi của mẹ mình. Có một khoảng lặng ngắn; sau đó Quan tòa hỏi ông nếu ông có thể kết luận, ông nói gì về người tù trên bục kia. Quản lí dường như hơi bối rối với điều này, và Quan tòa giải thích: “Đó là một câu hỏi chính thống. Tôi chuẩn bị kết nó”.

Ủy viên công tố sau đó hỏi, quản lí có bất cứ câu hỏi nào đặt ra không, và ông trả lời lớn: “Chắc chắn không! Tôi đã nói tất cả những gì tôi muốn”. Âm lượng của ông và ánh nhìn đắc thắng trên gương mặt ông, lúc ông liếc nhìn tôi, đánh dấu rõ rằng, tôi có cảm nhận như tôi chưa hề cảm nhận nhiều năm qua. Tôi có một đam mê ngốc nghếch là bật khóc nức nở. Đây là lần đầu tiên tôi đã nhận ra tất cả những con người này đã căm thù tôi thế nào.

Sau khi hỏi bồi thẩm đoàn và luật sư của tôi xem họ có bất cứ câu hỏi nào, Quan tòa nghe nhân chứng của bảo vệ. Bước chân lên bục bảo vệ ném một cái nhìn về phía tôi, sau đó quay đi. Trả lời những câu hỏi ông nói, tôi đã từ chối nhìn xác Mẹ, tôi đã hút thuốc lá và ngủ, và uống café au lait. Sau đó, tôi cảm giác kiểu như một làn sóng giận dữ – ngạc nhiên lan rộng khắp phòng xử, và cho lần đầu tiên tôi hiểu rằng tôi phạm tội. Họ yêu cầu bảo vệ nhắc lại những gì ông nói về cà phê và về việc tôi hút thuốc.

Ủy viên công tố quay về tôi lần nữa, với một cái nhìn chiến thắng trong mắt ông. Luật sư bào chữa của tôi hỏi bảo vệ, ông cũng đã không hút thuốc. Nhưng Ủy viên công tố phản đối mạnh mẽ điều này. “Tôi muốn biết”, công tố gạo lên giận dữ, “ai đang điều hành trong phiên tòa này?”. Hoặc liệu bạn bè tôi có nghĩ một nhân chứng đã phán xét không công bằng cho phần luận tội anh ta sẽ đảo lộn bằng cớ, những bằng chứng đầy đủ và xác thực, chống lại khách hàng của anh ta?”. Không thể tồi hơn, Quan tòa yêu cầu bảo vệ trả lời câu hỏi.

Anh bạn già động đậy đôi chút. Sau đó, “Ồ, tôi biết tôi đã không phải hoàn thành nó”, bảo vệ ậm ừ, “nhưng tôi đã đi lấy một điếu thuốc từ quí ông trẻ khi cậu mời tôi – chỉ là phép lịch sự”.

Quan tòa tiếp đó hỏi tôi có bình luận gì không. “Không gì cả”, tôi nói, “trừ bằng chứng hoàn toàn đúng. Sự thật là tôi đã mời ông một điếu thuốc lá”.

Bảo vệ nhìn tôi ngạc nhiên và kiểu như thán phục. Sau đấy, sau khi e hèm một chút, ông tự nguyện xác nhận ông là người khuyên tôi nên uống chút cà phê.

Luật sư của tôi vui sướng: “Bồi thẩm đoàn sẽ đánh giá cao”, gã nói, “nhân tố quan trọng trong nhiệm vụ này”.

Ủy viên Công tố tuy nhiên đã giậm chân ông lần nữa. “Hoàn toàn vậy”, ông nói to trên đầu chúng tôi. “Bồi thẩm đoàn sẽ đánh giá cao nó. Và họ sẽ đưa ra kết luận, cho dù bên thứ ba có mời nhiệt tình một tách cà phê, thì tù nhân, với phép lịch sự tối thiểu, nên phải từ chối nó, nếu chỉ là kính trọng xác chết của người đàn bà khốn khổ đã mang cậu ta đến với thế giới này”.

Sau đó bảo vệ trở lại chỗ ngồi của ông.

Khi Thomas Pérez được gọi lên, một nhân viên của tòa đã giúp ông bước lên bục. Pérez khẳng định, mặc dù ông là một người bạn lớn của mẹ tôi, ông đã gặp tôi duy nhất một lần, đúng vào cái ngày đám tang. Được hỏi tôi đã ứng xử thế nào vào ngày đó, ông đáp:

“Ồ, tôi thật buồn khổ nhất, mọi người biết đấy. Quá đau buồn để có thể nhận biết mọi thứ. Nỗi thống khổ của tôi đã làm mờ mắt tôi, tôi nghĩ vậy. Đó là một cú sốc lớn, cái chết người bạn yêu thương của tôi; thực tế tôi đã ngất đi trong đám tang. Bởi vậy tôi thật khó nhận ra quí cậu trẻ này được”.

Ủy viên Công tố yêu cầu ông kể cho Tòa ông có nhìn thấy tôi khóc sụt sùi. Và khi Pérez trả lời: “Không”, còn nhấn mạnh thêm: “Tôi tin Bồi thẩm đoàn sẽ ghi chú câu trả lời này”.

Luật sư của tôi đứng lên ngay lập tức, và  hỏi Pérez với giọng mà tôi nghĩ không cần phải gây hấn vậy.

“Nào, nghĩ kĩ đi, ông lão của tôi! Ông có thể thề rằng ông đã nhìn thấy thân chủ của tôi không rỏ một giọt nước mắt?”.

Pérez trả lời: “không hề khóc”.

Lúc này một vài người cười gằn, và luật sư của tôi xắn lại tay áo choàng, nói rành rọt:

“Đây là điển hình của cách trường hợp này gọi là đạo đức. Không sự cố gắng nào được đặt ra để loại bỏ những thực tế của sự thật”.

Ủy viên Công tố bỏ qua khẳng định này, ông đã vạch đi vạch lại bút chì của ông lên vỏ ngoài chiếc va li của ông, dường như hoàn toàn không khác nhau.

Tòa nghỉ 5 phút, trong lúc đó luật sư của tôi nói với tôi mọi việc giải quyết đang thực sự tốt đẹp. Sau đó Céleste được gọi đến. Anh là một nhân chứng cho bên bào chữa. Bào chữa có ý nghĩa đối với tôi.

Thỉnh thoảng Céleste ném cho tôi một ánh nhìn; anh đang vò chiếc mũ phớt bằng hay tay lúc anh làm nhân chứng. Anh mặc bộ comple đẹp nhất của anh, bộ anh mặc nhân thỉnh thoảng một Ngày Chủ nhật anh đi cùng tôi đi đến cuộc đua. Nhưng bằng cớ, anh đã không dựng cổ áo lên; phía trên cùng chiếc áo sơ mi của anh, tôi nhận ra, chỉ được thắt bằng chiếc cúc kim loại. Được hỏi có phải tôi là một trong những khách hàng của anh, anh đó, “đúng và một người bạn nữa”. Được hỏi anh cho ý kiến về tôi, anh nói tôi “tốt, và khi được hỏi giải thích anh nói vậy nghĩa gì, anh đáp lại ai ai cũng biết đó có nghĩa gì. “Tôi là một người đàn ông bí mật?”. “Không”, anh đáp, “Tôi không nên gọi cậu ấy vậy. Nhưng cậu ấy không phải là người phí hoài hơi thở của mình, giống như nhịp điệu”.

Ủy viên công tố hỏi anh tôi có nợ ròng hóa đơn hàng tháng tại nhà hàng của anh ấy lúc anh trình ra không. Céleste cười to, “Ồ, cậu ấy trả ngay  tắp lự, đúng vậy. Còn những hóa đơn chỉ là những chi tiết-hóa, giữa cậu ấy và tôi”. Sau đó anh được hỏi nói về việc anh nghĩ gì về việc phạm tội. Anh đặt hai tay mình lên thanh ngang của bục và mọi người có thể nhìn thấy anh đã sẵn sàng cho bài phát biểu.

“Trong suy nghĩ của tôi đó chỉ là một tai nạn, một sự kém may mắn, nếu như các ông muốn dùng từ khác. Và một thứ giống như bạn đã mất kiểm soát của mình”.

Anh ấy muốn tiếp tục nói, nhưng Quan tòa đã cắt ngang. “Hoàn toàn được rồi. Tốt rồi, cảm ơn anh”.

Chừng một giây Céleste lặng đi, sau đó anh giải thích là anh chưa kết thúc hết những gì anh muốn nói. Họ bảo anh tiếp tục, nhưng nói ngắn gọn.

Anh chỉ nhắc lại đó là “chỉ đơn thuần tai nạn”.

“Đó là có lẽ phải vậy”, Quan tòa quan sát, “Nhưng những gì chúng ta ở đây là cố gắng cho những tai nạn kiểu thế, tuân theo luật pháp. Cậu có thể bước xuống”.

Céleste quay và nhìn tôi. Mắt anh ươn ướt và môi anh rung rung. Đó là chính xác nếu anh muốn nói: “Ồ, tôi đã làm những điều tốt nhất cho cậu, cậu bé già. Tôi sợ đã không giúp được gì nhiều. Tôi xin lỗi”.

Tôi đã không nói gì, hay có phản ứng gì, nhưng đây là lần đầu tiên trong đời tôi, tôi muốn hôn một người đàn ông.

Quan tòa nhắc lại yêu cầu anh bước xuống, và Céleste trở lại chỗ ngồi giữa đám đông. Trong suốt phần còn lại để nghe anh vẫn ở đó, hơi ngả về phía trước, cùi trỏ đặt trên đầu gối và chiếc mũ phớt trong hai tay anh, không bỏ sót một lời nào trong tiến trình phiên tòa.

Tiếp theo đến lượt Marie. Nàng đội mũ và trông vẫn hoàn toàn xinh đẹp, mặc dù tôi thích nàng để tóc buông hơn. Từ đây tôi có thoáng nhìn thấy bờ ngực mềm của nàng, và môi dưới của nàng bĩu nhẹ luôn luôn mê hoặc tôi. Nàng xuất hiện trông rất lo lắng.

Câu hỏi đầu tiên là: Nàng biết tôi bao lâu rồi? Kể từ thời gian khi nàng ở trong văn phòng của chúng tôi, nàng đáp. Sau đó Quan tòa hỏi nàng mối quan hệ của chúng tôi là thế nào, và nàng nói là là bạn gái của tôi. Trả lời câu hỏi khác, nàng thú nhận hứa hẹn sẽ cưới tôi. Ủy viên Công tố, người đã đang nghiên cứu một tài liệu trước mặt ông, hỏi nàng khá sắc khi nào thì “gian díu” của chúng tôi bắt đầu. Nàng đưa ra ngày. Ông sau đó quan sát bằng không khí có-thể chính xác nàng nói ngày hôm sau đám tang mẹ tôi. Sau khi đưa ra thông tin bẫy này ông khẳng định bằng một tông giọng đanh thép nhẹ là hiển nhiên đây là một “chủ đề tế nhỉ” và ông có thể bước vào một cảm xúc của một quí cô trẻ, nhưng – lúc này giọng của ông càng ngày càng rít hơn – nhiệm vụ của ông có trách nhiệm của ông giảm nhẹ những suy xét của sự thanh tao này.

Sau tuyên bố đó ông hỏi Marie nói thông tin đầy đủ chúng tôi làm gì hôm đó lúc tôi “giao cấu” với nàng lần đầu tiên. Marie đầu tiên đã không trả lời, nhưng Công tố yêu cầu, và sau đó nàng nói với ông chúng tôi gặp nhau khi đi tắm, đi xem phim cùng nhau và sau đó tới chỗ tôi ở. Ông sau đấy khẳng định trước phiên tòa, đó là những kết luận chắc chắn của chính Marie tại những tiến trình trước khi điều tra, ông đã nghiên cứu chương trình phim ngày hôm đó, và quay về phía Marie hỏi nàng tên của bộ phim chúng tôi đã xem. Trong một giọng nói thấp nàng đáp đó là phim có Fernandel đóng. Cùng thời gian nàng kết thúc, phòng xử lặng phắc như thể bạn có thể nghe được tiếng kim rơi.

Trông có vẻ đau khổ, Ủy viên Công tố đã đứng thẳng người dậy và chỉ thẳng vào tôi, nói trong một tông giọng như thể tôi đã cam kết là ông chuyển động mạnh mẽ:

“Kính thư quí ông trong Bồi thẩm đoàn, tôi phải khẳng định với các ngài ngay sau ngày đám tang mẹ, người đàn ông này đã đến bể bơi, bắt đầu cặp kè với một cô gái, và đi xem phim hài. Đó là tất cả những gì tôi muốn nói”.

Khi ông ngồi xuống khoảng lặng chết chóc giống hệt đã diễn ra. Sau tất cả Marie đột nhiên bật khóc. Ông đã nắm mọi thứ sai rồi, nàng nói; đó không chút nào giống và thực sự như vậy cả, ông đã uy hiếp nàng hiểu ngược lại những gì nàng muốn nói. Nàng biết tôi rất rõ, và nàng chắc chắn tôi đã không làm bất cứ điều gì sai – và vậy đấy. Một tín hiệu từ chủ tọa phiên tòa, một trong những nhân viên của phiên tòa đã dẫn nàng đi, và tiếp tục nghe phần còn lại.

Hiếm có ai dường như nghe được Masson nói, nhân chứng tiếp theo. Anh ấy khẳng định tôi là một người bạn trẻ đáng kính trọng; “và, gì nữa nhỉ, một gã thật thà”. Không một ai chú ý tới Salamano, khi ông nói với họ tôi luôn luôn tử tế thế nào đối với con chó của ông, hoặc khi, trong việc trả lời một câu hỏi về mẹ tôi và bản thân tôi, ông nói Mẹ và tôi có rất ít điểm chung và giải thích tại sao tôi quyết định để bà đến Viện Dưỡng lão. “Mọi người phải hiểu”, ông nói thêm, “Mọi người phải hiểu”. Nhưng không một ai dường như hiểu cả. Ông được yêu cầu bước xuống.

Raymond là người tiếp theo, và nhân chứng cuối cùng. Anh ta đưa tay vẫy nhẹ tôi và nói tôi rất ngây thơ. Quan tòa phản đối anh ta.

“Cậu đến đây để làm nhân chứng, không phải là nêu quan điểm của  cậu ở phiên tòa, và cậu phải khẳng định bản thân mình để trả những câu hỏi tôi đưa ra cho cậu”.

Sau đó anh ta được hỏi làm rõ mối quan hệ của anh ta với người đã mất, và Raymond có cơ hội giải thích đó là anh ta, không phải tôi, chống lại người đàn ông đã chết bởi một mối căm thù, bởi vì anh ta, Raymond, đã đánh đập em gái của người đàn ông đó. Quan tòa hỏi anh ta người chết không có lí do gì để ghét tôi cả. Raymond nói với quan tòa việc sáng hôm đó tôi có mặt trên bãi biển là một sự trùng khớp thuần khiết.

“Việc sau đó đã xảy đến thế nào”, Công tố hỏi, “có phải bức thư đã dẫn tới thảm họa mà tù nhân gây ra?”.

Raymond đáp lại điều này, đơn thuần cũng chỉ là một sự tình cờ.

Với điều này Công bố lập tức biện hộ trong trường hợp này thì là “sự tình cờ” hay là “sự trùng khớp” dường như đóng một phần to lớn đáng kể. Đó có phải là sự tình cờ tôi đã không can thiệp khi Raymond đánh đấm tình nhân? Thuật ngữ “sự tình cờ” là hoàn toàn thích hợp khi tôi sử dụng để cam đoan cho Raymond tại sở cảnh sát và đã làm thế, đúng dịp ấy, những lời tuyên bố có ưu ái quá đáng đối với anh ta không? Để kết luận Công tố hỏi Raymond cho biết phương tiện sinh nhai của anh ta là gì.

Bản thân anh ta mô tả mình là một người giữ kho, Công tố thông tin cho bồi thẩm đoàn đó là kiến thức chung chứng tỏ rằng nhân chứng sống dựa vào kiếm chác từ những người phụ nữ. Tôi, ông ta nói, là người cộng tác và bạn thân thiết với người đàn ông này; trong thực tế, toàn bộ nền tảng của vụ phạm tội là những mô tả sa đọa nhất về đạo đức. Và thậm chí còn đáng ghê tởm hơn với cá nhân là một người tù, một con quỉ toàn bộ không có tính người thiếu cả tinh thần đạo đức.

Raymond nhẹ nhàng phản ứng lại, và luật sư của tôi cũng phản đối. Họ được thông báo rằng Công bố phải kết thúc phần biện hộ của ông.

“Tôi mới gần kết thúc thôi”, ông ta đáp; sau đó quay về phía Raymond. “Tù nhân có phải là bạn của anh?”.

“Chắc chắn rồi. Chúng tôi là những người bạn tốt nhất, như mọi người nói”.

Công tố cũng đặt câu hỏi tương tự đối với tôi. Tôi nhìn vào Raymond chằm chằm, và anh ta đã không quay lại.

Rồi, “vâng”, tôi đáp.

Công tố quay về phía bồi thẩm đoàn.

“Không chỉ người đàn ông đang đứng trên bục trước mặt các ông đây, đam mê hầu hết những cuộc truy hoan rượu chè đáng xấu hổ nhất ngay ngày hôm sau đám tang của mẹ cậu ta. Cậu ta giết một người đàn ông ngay chớp mắt, với một đeo đuổi báo thù nhơ nhớp trong thế giới ngầm của đĩ điếm và chủ chứa. Đó, những quí ông của bồi thẩm đoàn, là kiểu người của tù nhân đấy”.

Ngay sau khi ông ngồi xuống, luật sư của tôi, không còn đủ kiên nhẫn, đã giơ tay thật cao khiến cho ống tay áo rơi cả về phía sau, lộ rõ hết cả cổ tay áo sơ mi hồ cứng của gã.

“Đây là thân chủ của tôi trong phiên tòa luận tội,  về việc chôn mẹ cậu ta, hay giết người?”, gã hỏi.

Vài tiếng xì xào trong phiên tòa. Nhưng sau đấy Công bố đã giậm chân, và quấn chiếc áo tòa quanh mình, nói rằng ông ta thật ngạc nhiên về sự ngây thơ của người bạn đã không nhìn thấy sự khác biệt giữa hai nhân tố của vụ án, có một đường kết nối sống còn ở đây”. Tâm lí họ giao du cùng nhau, nếu nhưng anh ta có thể cũng làm vậy. “Tóm lại”, ông kết luận, nói với giọng rất hùng hồn, “tôi buộc tội bị cáo có hành vi trong đám tang của mẹ cậu ta cách đó đã chứng tỏ cậu ta sinh ra đã là một kẻ phạm tội”.

Những lời này dường như ảnh hưởng quá mạnh tới bồi thẩm đoàn và công chúng. Luật sư của tôi chỉ rùng mình và lau mồ hôi trên trán gã. Nhưng hiển nhiên là gã không hề cuống, và tôi có một cảm nhận mọi thứ đã không còn tốt đối với tôi.

Ngay sau chứng cứ này phiên tòa tạm nghỉ. Lúc tôi được dẫn tới tòa án từ xe bán tải của nhà tù, tôi tỉnh táo trong nhiều khoảnh khắc cốt lõi với cảm nhận giống nhau về một tối mùa hè đang-ở-ngoài-cửa. Và, ngồi trong bóng tối của buồng giam di động của mình, tôi nhận ra, vang vọng trong trí não mệt mỏi của tôi, tất cả những tiếng động tính cách của một thị trấn tôi từng yêu, và của một giờ chắc chắn trong ngày tôi đã luôn luôn tận hưởng một cách khác biệt. Những tiếng hét rao của các cậu bé bán báo trong không gian sẵn uể oải rồi, những tiếng gọi cuối cùng của lũ chim trong khu vườn công cộng, và tiếng khóc chào mời của người bán bánh mì kẹp rong, tiếng chói tai của xe đò trên góc phố hẹp ở thị trấn trên cao, và tiếng sột soạt mờ nhạt trên đầu như bóng đêm buông xuống xa phía cảng biển – tất cả những tiếng động này khiến tôi trở lại nhà tù giống như một chuyến du hành của một người mù đang trong cuộc hành trình mà mỗi bước chân anh ta đều rõ từ trái tim mình.

Vâng, đây là giờ khắc đêm lúc này – dường như đã trôi qua được bao lâu từ lúc trước! – Tôi luôn luôn cảm nhận từng nội dung trác tuyệt của cuộc đời. Sau đó, điều chờ tôi là một đêm ngủ dễ dàng, không giấc mơ. Lúc này là giờ khắc giống hệt, nhưng là một sự khác biệt rồi; Tôi đang trở lại buồng giam, và điều đợi tôi là một đêm ám ảnh bởi những điềm không lành cho ngày sắp tới. Và bởi tôi đã học được rằng những con đường giống nhau tạo vết trong những đêm hè bụi bặm có lẽ sẽ dẫn tới những nhà tù với những giấc ngủ không còn ngây thơ và gặp chút vấn đề.

(Hết chương III, phần II)

Còn tiếp

(*) Thực sự là tôi ngộp thở khi đọc Albert Camus. Chắc hẳn với Gilbert Stuart hẳn cũng vậy. Nếu mà được đọc từ nguyên bản tiếng Pháp chắc còn tuyệt vời nữa. Nhưng tôi cũng tạm hài lòng với điều này đã, khi được tiếp xúc và hiểu được Camus. Vốn là một phóng viên, cũng thích vo ve chuyện thế sự, dù không vinh hạnh được một lần tới tòa và dự một phiên tòa, nhưng xem trên trực tuyến truyền hình thì cũng có, nhưng tôi thấy Camus cảm nhận về phóng viên cực rõ. Vẫn những tay thích tọc mạch, vẫn yêu những chuyện chân tơ kẽ tóc và giật gân. Ở góc độ một tù nhân, cái nhìn của Mersault cứ như một lăng kính phản chiếu. Một bên là ồn ào, một góc là lặng lẽ. Một bên là tìm sao cho ra những chuyện vớ vẩn để câu khách, một bên chỉ có mong muốn là phiên tòa xử đúng, xử đủ. Nhưng hầu như cái phần nổi nhỏ bé đã chiếm lĩnh cái tảng băng chìm đáng kính trọng kia rồi. Cái tình yêu lặng lẽ của Marie. Cái tình bạn chân chính nhưng đã bị khuất lấp, trong khi cái tình bạn giả hiệu lại trở thành đòn búa tạ giáng xuống chàng trai trẻ Mersault.

Advertisements

One thought on “Người lạ (tiếp theo 19)

  1. Pingback: Người lạ (tiếp theo 20) | hieuthao-journalism-online-course

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s