Người lạ (tiếp theo 18)

19092776

Albert Camus ở Saint -Honorat năm 1945. Nguồn ảnh: Goodread

NGƯỜI LẠ

Albert Camus

Dựa theo bản dịch tiếng Anh từ tiếng Pháp của Stuart Gilbert (N.H.T chuyển ngữ/Phần 2/Tiếp)

>> Phần trước

Phần II

II

CÓ một vài điều tôi chưa từng quan tâm nói ra. Và, một vài ngày sau khi tôi bị đưa tới nhà tù, tôi quyết định giai đoạn này là một trong những điều đó. Tuy nhiên, khi thời gian qua đi, tôi chợt cảm thấy điều không thích này không có căn bản thực sự. Trong quan điểm thực tế, trong những ngày mới này, tôi thật khó tỉnh táo ở trong tù; tôi luôn luôn có một hi vọng mơ hồ rằng mọi thứ sẽ đảo ngược, vài điều ngạc nhiên có thể chấp nhận.

Thay đổi đến sớm khi lần đầu tiên Marie đến  thăm và chỉ một lần đó. Từ cái tôi nhận được thư nàng cho hay họ không để nàng tới và thăm tôi nữa, bởi vì nàng không phải là vợ tôi – từ ngày đó tôi nhận ra buồng giam này là mái ấm cuối cùng của tôi, một cái kết của cái chết, nói vậy nhỉ.

Vào ngày tôi bị bắt họ để tôi trong một căn phòng to nhất với một vài tù nhân khác, hầu hết là người A rập. Họ rên rỉ khi họ nhìn thấy tôi bước vào, và hỏi tôi đã phạm tội gì. Tôi kể với họ tôi đã khử một tên A rập, họ lặng đờ một lúc. Nhưng đêm bắt đầu xuống lúc này, và một trong số họ giải thích cho tôi cách rải chiếu ngủ của tôi thế nào. Bằng cuộn mép này với mép kia kiểu như bọc kín hỗ trợ. Cả đêm tôi cảm giác những con bọ bò khắp mặt tôi.

Vài ngày sau tôi tự nhốt mình trong buồng giam, nơi tôi ngủ trên một chiếc giường tầng bắt vít vào tường. Những đồ đạc duy nhất khác là một cái xí xổm và một bồn rửa tay bằng thiếc. Tù nhân đứng chụm cả vào chỗ đất có ánh nắng mặt trời, và qua cửa sổ nhỏ bé của tôi, tôi có thể nghé ra biển. Một ngày khi tôi đang treo mình trên xà, đắm mắt về phía ánh sáng mặt trời đang đùa trên những ngọn sóng, một cai tù bước vào và bảo tôi có khách thăm. Tôi đã nghĩ đó chắc hẳn là Marie, và quả đúng vậy.

Bước tới Phòng thăm thân, tôi phải đi qua một hành lang dài, sau đó đi lên những bậc cao thang như lên một chuyến bay, rồi lại dọc hành lang khác. Đó là một căn phòng rất rộng, chiếu sáng bằng một chiếc cửa sổ vòm to, và chia thành ba khu vực bằng những tấm ngăn thép dựng đứng. Giữa hai tấm thép có một cái lỗ chừng 30 feet, một kiểu khoảnh đất trống giữa các tù nhân và người thân. Tôi được dẫn tới một nơi đối diện thẳng Marie, nàng đang mặc một chiếc váy kẻ sọc. Dọc bên tôi là 12 tù nhân khác, đa số là người A rập. Bên Marie hầu hết là những phụ nữ người Moor. Nàng kẹp giữa một phụ nữ già nhỏ bé có đôi môi mím chặt và một y tá trường học phốp pháp, không đội mũ, đang nói liên mồm rất to và tay vung liên hồi. Bởi có khoảng cách giữa khách thăm và tù nhân, tôi thấy, tôi cũng phải nói với giọng thật to.

Khi tôi bước vào phòng, tiếng lặp của giọng nói vọng lại từ những bức tường trống, và ánh nắng tràn vào trong, phủ lên mọi thứ bằng tia trắng toát, khiến tôi cảm thấy hoàn toàn mơ màng. Sau khi buồng giam của tôi vừa lặng yên vừa tối tăm thì ánh sáng đã khiến tôi cần một lúc mới quen được. Sau một chút, tuy nhiên, tôi đến và mặt đối mặt rõ ràng, mọi thứ sáng sủa như điểm sáng tập trung cả vào đó.

Tôi nhận thấy một cai quản nhà tù ngồi phía cuối khoảng giữa chỗ trống giữa những tấm ngăn. Các tù nhân địa phương và người thân của họ ngồi ở mỗi bên và đang nói chuyện đối diện với nhau. Họ đã không cất cao giọng, và mặc dầu tiếng động ồn ĩ, hầu hết chuyển thành những tiếng thì thầm. Rầm rì cả những giọng nói này, nói bé tạo thành một kiểu kết hợp với những cuộc nói chuyện lơ lửng trên đầu họ. Tôi bỏ qua mọi thứ rất nhanh và bước một bước dài tới chỗ Marie. Nàng đang ấn gương mặt rám-nắng màu nâu của nàng vào những thanh song và mỉm cười một cách khó khăn nhất nàng có thể. Tôi nghĩ nàng trông rất xinh đẹp, nhưng làm cách nào tôi có thể là chính tôi để nói chuyện với nàng vậy.

“Ồ”, nàng hỏi, cất giọng của nàng rất cao. “Cái gì đây? Anh khỏe chứ, có đủ những thứ anh cần chứ?”.

“Ừ, có. Anh có mọi thứ anh cần”.

Chúng tôi im lặng trong một lúc; Marie tiếp tục mỉm cười. Người phụ nữ phốp pháp đang oang oang với tù nhân bên cạnh tôi, có thể đoán là chồng bà, một người đàn ông khá ưa nhìn, trung tuổi, cao.

“Jeanne từ chối đón nhận thằng bé”, bà rên rỉ.

“Vậy thì tồi tệ quá”, người đàn ông đáp lại.

“Vâng, và tôi đã nói với con bé nên đón thằng bé trở lại lúc này khi anh ra tù; nhưng con bé đã không chịu nghe lời”.

Marie gào lên qua lỗ hổng, rằng Raymond đã gửi lời hỏi thăm tới tôi, và tôi nói, “Cảm ơn nhiều”. Nhưng giọng của tôi bị chìm đi bởi người ngồi bên cạnh, hỏi “thế thằng bé có hoàn toàn khỏe mạnh không”.

Bà phốp pháp cười to. “Khỏe mạnh ư? Tôi nên nói nó thế nào nhỉ! Bức tranh của khỏe mạnh”.

Trong khi tù nhân bên trái tôi, một thanh niên có bàn tay phụ nữ, gày gò, chưa từng nói một câu nào. Mắt của gã, đã chằm chằm vào phụ nữ già bé nhỏ đối diện gã, và bà ta đáp trả lại ánh nhìn của gã với một kiểu khát khao đam mê. Nhưng tôi phải dừng không ngắm họ lúc Marie đang gào lên với tôi, chúng ta không được phép từ bỏ hi vọng.

“Chắc chắn là không”, tôi trả lời. Cái nhìn của tôi rơi xuống hai vai nàng, và tôi có một ham muốn đột ngột là bóp chặt chúng, qua chiếc váy mỏng. Lụa dệt của chiếc váy khiến tôi đam mê, và tôi có một cảm giác là hi vọng nàng sẽ tập trung nói về nó, cách nào đó. Tôi tưởng tượng như cách đã có trong tâm trí của Marie, để nàng tiếp tục mỉm cười, nhìn thẳng vào tôi.

“Mọi thứ sẽ bình thường thôi, anh sẽ thấy, và chúng ta sẽ cưới nhau”.

Tất thảy tôi nhìn thấy nàng lúc này là ánh trắng của răng nàng, và những vết nhăn nhỏ quanh mắt nàng. Tôi trả lời: “Em thực sự nghĩ vậy ư?” nhưng cơ bản là bởi vì tôi cảm giác khó với tôi để trả lời gì đó.

Nàng bắt đầu nói rất nhanh trong giọng nói vút-cao đều đều.

“Vâng, anh sẽ được tha bổng, và chúng ta sẽ lại đi tắm cùng nhau, những ngày Chủ nhật”.

Bà bên cạnh tôi vẫn còn la hét, kể với chồng bà việc bà đã để lại một cái giỏ đồ cho chồng ở trong văn phòng nhà tù. Bà đưa ra một danh sách các thứ bà đã mang tới và kể với ông để nhớ và kiểm tra chúng cẩn thận, vì một vài thứ khá là có giá trị. Thanh niên trẻ bên cạnh tôi và mẹ của cậu vẫn nhìn nhau đầy buồn thương, và tiếng rì rầm của ngôn ngữ A rập đã chìm đi dưới họ. Ánh sáng bên ngoài dường như ngày một tăng lên phía cửa sổ, ập qua, và nhòe lên trên các gương mặt của mọi người như được khoác lên một chiếc áo khoác lớp dầu màu vàng.

Tôi bắt đầu cảm thấy choáng nhẹ, và tôi ước gì tôi có thể rời khỏi. Giọng nói phiền hà cạnh tôi đang kèn kẹt bên tai tôi. Nhưng, mặt khác, tôi muốn có được tất cả những sự ủng hộ của Marie. Tôi không có nhận thức được thời gian đã qua bao lâu. Tôi nhớ Marie mô tả cho tôi công việc của nàng, với nụ cười luôn nở trên gương mặt nàng. Không thấy tiếng động ngừng lúc nào – tiếng gào, chuyện trò, và luôn luôn là tiếng thì thầm to nhỏ. Duy nhất ốc đảo lặng yên được chàng trai trẻ và người phụ nữ già tạo ra khi họ chỉ nhìn vào mắt nhau.

Sau đó, từng người một, những người A rập được dẫn đi; hầu hết mọi người đều lặng im khi chỉ còn người đầu tiên ở lại. Phụ nữ già bé nhỏ ấn người bà vào những thanh sắt cùng với khoảnh khắc cai ngục chạm vào vai con trai bà. Gã nói, “Au revoir, Mẹ”, và, trượt khỏi tay bà qua những thanh sắt, bà chào con trai bằng vẫy tay khoảng bé, chậm rãi.

Không sau đó bà đi cùng một người đàn ông, mũ cầm trong tay, thay thế chỗ của bà. Một tù nhận được dẫn ra chỗ khoảng trống bên cạnh tôi, và cả hai bắt đầu trao đổi mau lẹ – không to tiếng, tuy nhiên, như căn phòng trở nên tương đối im lặng. Ai đó vừa tới và gọi người đàn ông bên phải tôi đi, và vợ của anh quát anh – chị đã dường như không nhận ra không còn cần thiết để quát to nữa – “Này, anh nhớ chăm sóc bản thân, anh yêu, và đừng làm gì liều lĩnh!”.

Tiếp theo đến lượt tôi phải đi. Marie hôn gió tôi. Tôi nhìn ngược lại lúc tôi bước đi. Nàng đã không cử động; gương mặt nàng vẫn còn dính vào những thanh song, môi nàng vẫn còn mím lại, đọng một nụ cười.

Ngay sau việc này tôi nhận được thư nàng. Và sau đó mọi điều tôi chưa thích nói đã bắt đầu. Không bởi vì chúng khủng khiếp đáng kể; tôi đã không hoang phí lời hứa và tôi chịu tổn thương kém hơn những người khác. Song, vẫn còn một thứ trong những ngày đầu này mà thực sự tẻ nhạt: thói quen nghĩ của tôi giống như một người đàn ông tự do. Ví như tôi đột nhiên tóm được một ham mê muốn xuống biển để bơi.  Và đơn thuần là tưởng tượng tiếng động nhóp nhép dưới chân tôi, cảm giác mượt mà của nước trên cơ thể tôi khi tôi thả lỏng, và tinh thần tuyệt vời của niềm tin mang tôi về nhà hơn là sự chật hẹp của buồng giam tàn bạo lúc này.

Song, tâm trạng đó kéo dài chỉ được vài tháng. Sau đó, tôi có những ý nghĩ của kẻ tội tù. Tôi chờ đợi được đi dạo ở dưới sân hoặc luật sư tới gặp. Còn lại hầu hết thời gian, tôi cố gắng để hoàn toàn khỏe mạnh, thật đấy. Tôi đã thường xuyên nghĩ rằng tôi đang bị bắt ép phải sống trong một hốc cây khô, không có gì để làm ngoài nghểnh cổ lên ngắm giời phía trên, tôi đã quen với việc đó theo nhiều mức độ. Tôi đã học được cách nhìn những con chim bay qua hoặc những đám mây nổi lững lờ, lúc tôi phải đến để theo dõi chiếc cà vạt bướm kì quặc luật sư của tôi đeo, hoặc, ở một thế giới khác, chờ đợi kiên nhẫn đến Ngày chủ nhật để được mê mải lúc làm tình với Marie. Ồ, ở đây, dầu sao, tôi đã không bị nhốt vào khúc cây rỗng. Có những điều khác trong thế giới tồi tệ hơn. Tôi nhớ đó là một trong những ý tưởng thú nuôi của Mẹ tôi – bà đã luôn luôn nói về nó – rằng trong thời gian dài một thứ sẽ quen với mọi thứ.

Thường xuyên, tuy nhiên, tôi đã không nghĩ mọi thứ xa đến vậy. Những tháng đầu tiên này là đang cố gắng, tất nhiên; nhưng cố gắng rất nhiều tôi phải tạo ra sự giúp đỡ tôi từ họ. Ví dụ, tôi mơ hồ bởi đam mê dành cho một người đàn bà – điều này đủ tự nhiên, nhất là lứa tuổi tôi. Tôi chưa từng nghĩ Marie đặc biệt. Tôi ám ảnh bởi những ý nghĩ của người phụ nữ này, hoặc kia, của tất cả những ai mà tôi có, tất thảy hoàn cảnh nào tôi cũng yêu họ; nhiều đến mức buồng giam trở nên đông cứng với những gương mặt, bóng ma của những đam mê già cỗi của tôi. Điều đó bất an tôi, không nghi ngờ gì hết; nhưng, ít ra, nó có thể giết thời gian.

Tôi dần dần trở nên hoàn toàn thân thiện với cai tù chính, người đi loanh quanh trong nhà bếp phụ giúp lúc giờ ăn. Đó là người đàn ông mang đến chủ đề cho mọi phụ nữ. “Đó là những gì nhiều đàn ông ở đây phàn nàn nhiều nhất”, cai tù nói với tôi.

Tôi đáp bản thân tôi cũng thấy giống thế. “Có điều gì không được bình đẳng lắm”, tôi nói thêm, “giống như bồi thêm một cú khi gã đã ngã xuống rồi”.

“Những đó là toàn bộ quan điểm của nó”, cai tù nói; “đó là tại sao cậu những gã bạn đang bị giữ trong tù”.

“Tôi không hiểu”.

“Tự do”, cai tù đáp, “nghĩa là. Cậu đang bị cướp đoạt mất tự do của cậu”.

Trước đây tôi chưa từng thấy mình sáng rõ, nhưng tôi hiểu quan điểm của cai tù. “Đúng vậy”, tôi đáp. “Hoặc ngược lại đây không phải là sự trừng phạt”.

Cai tù gật đầu. “Đúng, cậu khác biệt, cậu có thể dùng bộ não của cậu. Những người khác thì không. Song, những gã đó tìm cách thoát; họ tự thân làm điều ấy”. Với kết luận như vậy cai tù rời khỏi buồng giam của tôi. Ngày tiếp theo tôi đã làm giống như những người khác.

Thiếu thuốc lá cũng là một thử thách. Khi tôi được đưa tới nhà tù, họ tháo dây lưng, dây giày, và toàn bộ các thứ trong túi tôi, gồm cả những điếu thuốc của tôi. Khi tôi được đưa đến buồng giam tôi đã hỏi xin phép được lấy lại, dầu sao, thuốc lá. Hút thuốc bị cấm họ cảnh báo tôi. Đó bởi vì sẽ khiến tôi xuống sức nhiều nhất; thực tế, tôi thực sự đau đớn trong vài ngày đầu tiên. Tôi thậm chí xé nhỏ những sợi chiếu và ngậm chúng. Cả ngày dài tôi cảm thấy ngất ngây và cáu bẳn. Tôi hiểu rằng tại sao tôi không nên được phép thậm chí là hút thuốc; có thể chẳng một ai bị hại gì. Sau đó, tôi hiểu ý tưởng phía đằng sau nó; điều cá nhân này, cũng, là một phần trong những trừng phạt của tôi. Nhưng, cùng lúc tôi hiểu, tôi đã dứt cơn thèm, bởi thế mọi trừng phạt cũng ngừng lại.

Trừ những điều cá nhân như thế này, tôi cũng không được vui vẻ. Lần nữa, toàn bộ vấn đề là: Làm sao để giết thời gian. Sau một lúc, tuy nhiên, khi tôi học được mẹo nhớ mọi thứ, tôi chưa lúc nào có một khoảnh khắc buồn tẻ nữa. Thỉnh thoảng tôi tập thể dục cho trí nhớ của mình trong phòng ngủ của tôi và, bắt đầu từ một góc, vẽ một vòng tròn, định vị mỗi vật thể tôi nhìn thấy trên đường. Đầu tiên chỉ mất chừng một hoặc hai phút. Nhưng mỗi thời gian tôi nhắc lại kinh nghiệm, cần thêm thời gian dài hơn một chút. Tôi đánh dấu hình ảnh mỗi mẩu đồ vật, và từng vật thể trên hoặc trong nó, và sau đó từng chi tiết của từng vật thể, và cuối cùng là những chi tiết của những chi tiết, nói thế nào nhỉ: một vết lõm hay dập nổi nhỏ, hoặc một bờ gờ, và chính xác từng đường gân và màu sắc của những sản phẩm gỗ. Cùng thời gian tôi bắt ép bản thân phải tìm kiếm trong sáng tạo trí não của mình từ đầu cho tới cuối, trong trật tự đúng và loại những đồ vật không có. Với kết quả như vậy, sau một vài tuần, tôi có thể dành hàng giờ chỉ để liệt kê các đồ vật trong phòng ngủ của mình. Tôi tìm thấy nhiều hơn tôi nghĩ, nhiều chi tiết hơn, quên-một nửa hoặc thiếu quan sát, nổi lên từ trí nhớ của tôi.  Dường như không thể kết thúc chúng.

Bởi thế tôi nhận ra rằng, sau kinh nghiệm của mỗi ngày đơn lẻ từ thế giới bên ngoài, một người đàn ông có thể dễ như sống một trăm năm trong tù. Anh ta nằm đó tích đủ trí nhớ chẳng bao giờ buồn tẻ. Hiển nhiên là, trong một cách, đây là một sự đền bù.

Sau đó có giấc ngủ. Để bắt đầu, tôi ngủ đêm tệ và chưa từng ngủ ngày. Nhưng dần dần những ngủ đêm của tôi tốt hơn, và tôi hướng cũng chợp mắt trong ngày cho khỏe. Thực tế, trong những tháng trước, tôi phải ngủ mười sáu đến mười tám giờ trong hai mươi tư giờ. Bởi vậy chỉ còn sáu giờ để lấp đầy – với các bữa ăn, nhu cầu cá nhân, trí nhớ của tôi… và câu chuyện của người Séc.

Một ngày, khi kiểm tra chiếu rơm của tôi, tôi tìm ra một mẩu báo mắc ở phía cạnh. Giấy đã ngả vàng qua thời gian, hầu hết đã trong suốt, nhưng tôi có thể vẫn nhận ra những chữ in trên đó. Nó là một câu chuyện tội phạm. Phần đầu tiên đã bị mất, nhưng tôi tập hợp những hình ảnh của nó là một ngôi làng ở Czechoslovakia. Một trong những người làng đã rời khỏi nhà mình để tìm kiếm may mắn ở nước ngoài. Sau hai mươi lăm năm, đủ giàu có, ông trở về quê nhà cùng vợ và đứa nhỏ. Trong khi mẹ ông và chị gái đang điều hành một khách sạn nhở trong ngôi làng nơi ông được sinh ra. Ông quyết định mang đến cho họ một điều ngạc nhiên và, để vợ của ông cùng đứa trẻ ở trong một nhà trọ khác, ông đến nghỉ tại nhà của mẹ mình, thuê một phòng dưới một cái tên giả. Mẹ ông và chị gái hoàn toàn không nhận ra nổi ông. Ăn tối tại ngay đêm đó ông chỉ cho họ thấy một khoản tiền khổng lồ mà ông mang theo cùng, và ngay trong đêm họ đã giết ông bằng một chiếc búa. Sau khi lấy tiền họ thả xác ông xuống dòng sông. Sáng hôm sau vợ của ông đến, và không nghĩ gì, đã nói cho biết thân phận của người khác. Mẹ ông đã treo cổ tự tử. Chị gái ông trẫm mình xuống giếng. Tôi phải đọc câu chuyện đó cả ngàn lần. Trong một cách câu chuyện dường như không hoàn toàn giống vậy; trong cách khác, nó đủ hợp lí. Dầu sao thì, trong trí nhớ của tôi, người đàn ông đã tự chuốc vạ; ai lại nên chơi trò ú tim kiểu đó.

Bởi thế, với một cơn ngủ dài, trí não của tôi, đọc mẩu báo, lượn sóng ánh sáng và bóng tối, nhiều ngày trượt qua. Tôi đã đọc, tất nhiên, trong nhà tù từ đầu tới cuối để trượt khỏi rãnh thời gian. Nhưng điều này chưa bao giờ có ý nghĩa là một điều gì đó đối với tôi. Tôi đã không nắm chặt nhiều ngày có thể lúc này dài hay ngắn thế nào. Dài, không nghi ngờ gì nữa, như nhiều giai đoạn để sống qua, nhưng nổi lên là ngày này qua đi bằng việc trùng khít lên ngày khác. Trong thực tế, tôi chưa bao giờ nghĩ về nhiều ngày như kiểu đó; chỉ có những từ “ngày hôm qua” và “ngày mai” là vẫn còn giữ được ý nghĩa của nó.

Khi, một buổi sáng, cai tù thông báo cho tôi tôi đã ở tù được sáu tháng, tôi tin cai tù – nhưng những từ ngữ chẳng dấy lên điều gì trong trí não của tôi. Với tôi nó dường như giống một ngày và ngày giống hệt đã trôi qua kể từ lúc tôi phải vào buồng giam, và đó là tôi đã đang làm điều giống hết trong suốt thời gian.

Sau khi cai tù để tôi lại tôi cọ bóng chiếc chén thiếc của tôi và cắm mặt vào làm việc đó. Biểu hiện của tôi vô cùng khủng khiếp, tôi nghĩ, thậm chí khi tôi đã cố gắng mỉm cười. Tôi giữ chiếc chén chén thiếc trong nhiều góc khác nhau, nhưng luôn luôn trên mặt tôi có một vẻ buồn đau giống hệt, biểu hiện căng thẳng.

Mặt trời đang chiếu sáng và đó là thời gian tôi đã không thèm cất lời – “giờ khắc không có tên”, tôi gọi nó vậy – khi đêm dường như đang bò dần khắp cả sàn nhà tù đầy ám ảnh khiếp đảm. Tôi đi đến cửa sổ nhà giam và trong những tia sáng cuối cùng nhìn thêm lần nữa gương mặt mình trong gương. Nó nghiêm trọng như lúc trước; và không ngạc nhiên gì, và đúng sau đó tôi cảm thấy khủng khiếp. Nhưng, cùng lúc, tôi nghe thấy điều gì mà tôi đã chưa từng nghe trong nhiều tháng. Đó là tiếng động của một giọng nói; giọng nói của chính tôi, không thể nào khác được. Và tôi nhận ra nó là giọng nói như nhiều ngày muộn tôi nghe thấy trong tai mình. Bởi vậy tôi biết trong tất cả thời gian này tôi đã tự nói lẩm nhẩm một mình.

Và điều mà tôi nói với mình trở lại; một dấu mốc của chính cô y tá tại đám tang của Mẹ. Không, không còn cách nào khác, và không ai có thể tưởng tượng những buổi đêm đó giống như ở trong tù.

(Hết chương II, Phần II)

Còn tiếp

(*) Đọc Camus vừa sướng lại vừa run khi chuyển ngữ những thông điệp của ông ra tiếng Việt. Đọc mà cứ phải thật từ từ, thấy khó hiểu lại phải quay đi quay lại, rà đi rà lại. Đọc sướng xong lại thấy sợ, bởi không hiểu mình đã hiểu hết được ý chuyển tải của ông. Ờ, nhưng cứ đang bước từng bước một, đều đều, chậm rãi. Các chuyên gia thông tuệ về Camus mau mau chỉ giáo giùm với ạ. (:)

Advertisements