Nước mắt

img732.u335.d20161021.t131220.739633.jpg

Bìa sách

Quả thực là mình không biết buồn hay vui khi đọc “Chuyện ngõ nghèo” của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh. Nhớ cách đây 6 năm, ông đã làm mình khóc với “Đội gạo lên chùa”. Nay không rỏ một giọt nước mắt, nhưng rùng mình, giật mình, ám ảnh khi gặp lại ông.

Nguyễn Xuân Khánh được mọi người biết đến và tôn vinh với “Hồ Quý Ly”, “Mẫu thượng ngàn”, tiểu thuyết lịch sử. Mình thích ông ở những tiểu thuyết rất đời, “Đội gạo lên chùa”. Còn nay là tiểu thuyết triết luận thì đúng hơn “Chuyện ngõ nghèo”.

Bìa đẹp, rất đẹp với minh họa của họa sĩ Đào Hải Phong. Chữ in nổi chắc là chữ viết tay của chính họa sĩ.

Nguyễn Xuân Khánh kể về chú Ỉ nhân vật chính có tên Lợn Bò. Chú là một con vật lai giữa Lợn và Bò. Vẫn gọi chú là Lợn bởi chú được nuôi để lấy thịt, chú có vóc dáng, cách ăn và vẫn xực cám là chính. Chú chỉ là Bò khi nhìn vào mắt đẹp như một chú Bò Ấn Độ và những sợi lông thưa dài, ánh lên một màu vàng.

Ông kể về Lợn mà rất duyên. Lợn để giúp ông thoát nghèo, nhưng thoát đâu chưa thấy, cái lạnh nhất, cái đáng sợ nhất là khi ông tả về việc con Ỉ lai Bò của ông nó nhai Đốt (nhà văn) cứ rau ráu, và nhờ nhai xương, chỉ chừa lại có bộ râu mà khiến cho con Lợn tăng trọng rất nhanh. Phỉnh phờ rất giỏi và lớn lên rất tài.

Nguyễn Xuân Khánh tả thêm về một nhà văn viết triết luận Lợn, tập hợp trong đó những câu chuyện về lợn đầy quái đản. Ông nhà văn có tên là Tám. Để cuối cùng  Tám đã chết vì chính nghĩa, cứu người xả thân quên mình.

Đọc Nguyễn Xuân Khánh thực sự rất sướng. Ông giả bộ là câu chuyện chú Ỉn này là một nhật kí của Lợn. Nhưng thật ra là nhật kí của chính ông. Ông trong truyện tên là Hoàng. Nhân vật Hoàng khi làm tình với vợ thì đuội, trong khi chăm Lợn thì cứ như đang ở… trên mây (!)

Hoàng gặp Hồ Ly để rồi chính Hồ Ly là nhân vật Mi người đọc cũng dễ dàng đoán ra, nhưng Nguyễn Xuân Khánh kể rất khéo, rất tài, liêu trai, dễ đọc, nhưng khó kể lại.

Năm 1981 – 1982, cả nước nghèo, Nguyễn Xuân Khánh kể chuyện nuôi lợn… thì quá ư là đúng rồi, nhưng trong đó có một phần ba là viễn tưởng. Gọi là viễn tưởng mà không phải viễn tưởng. Đó là một xã hội thực văn minh, thực cao đẹp, nhưng tịnh không có nỗi buồn, và đặc biệt là con người không thể rỏ… NƯỚC MẮT.

Ở xã hội đó Nguyễn Xuân Khánh đặt tên là Cực Thiên Thai, từa tựa như Cõi Niết Bàn trong Phật hay Thiên Đường nơi Thiên chúa giáo. Hihi, nhưng Cực Thiên Thai con người hem có làm tình, họ chỉ có lai giống như lợn lai. Và để cuối cùng chúa tể của Cực Thiên Thai có cái tên đánh số là A1, chính là chú Ỉ  Lợn Bò của nhân vật chính Nguyễn Hoàng.

Thú vị này đến thú vị khác khi đọc Nguyễn Xuân Khánh. Với nhà văn, khi đó chưa đầy năm mươi, bút lực còn khỏe, ông viết “Chuyện ngõ nghèo” và được khen là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của ông. Quả không uổng khi chọn, và đọc.

Ở đất Thủ đô này, nhà nào đã kinh qua chuyện nuôi lợn, đọc lại “Chuyện ngõ nghèo” của Nguyễn Xuân Khánh quả thấy như sao chuyện gì ông cũng tường. Mình đọc và nhớ lại thời mẹ nuôi lợn. Ngày xưa chả hiểu sao, mẹ chỉ chọn nuôi lợn đen. Bà chăm chỉ vớt bèo, thời đó bà làm ở cách nhà những bảy cây số, đầy bèo. Bà mua rau muống, bà tích nước gạo, đồ thừa để nấu cám cho lợn ăn. Nhưng lần nào chú lợn đen của bà cứ thau tháu ba mươi cân là… đổ vật ra chết. Ngày đó, mình mới mười một mười hai, chưa hiểu nỗi đau, thương mẹ. Nhưng cũng thấy bà rất tội, cố vớt vát thuê người mổ lợn tháu đó rồi bày ra ngay ở KTT bán thịt cho những người dân khi đó vừa đói, vừa thèm… thịt lợn. (Thôi cũng đành ăn tạm).

Chuyện lợn chết, được Nguyễn Xuân Khánh đặc tả với nhân vật Lân. Nhiều bí ẩn và thú vị, sợ nhất là vớt lòng dưới cống đen ngòm, bà bán lòng lợn thì dùng hóa chất tẩy sạch rùi luộc thơm, rán giòn bán cho người ăn. Còn Lân thì đem nó tái chế thành… món ăn để nuôi lợn tiếp. Vừa đọc vừa kinh sợ.

Hi hi, để kể “Chuyện ngõ nghèo” thì còn nhiều nhiều chi tiết hay lém. Ai đó, muốn thưởng thì mời… mua, hoặc qua mình cho mượn.

Thế nhỉ?! 🙂

Người lạ (tiếp theo 20)

15685

Tiểu sử đầy đủ về Camus. Nguồn ảnh: Goodreads.

NGƯỜI LẠ

Albert Camus

Dựa theo bản dịch tiếng Anh từ tiếng Pháp của Stuart Gilbert (N.H.T chuyển ngữ (*)/Phần 2/Tiếp)

>> Phần trước

IV

LUÔN LUÔN thú vị, thậm chí cả trên bục của bị cáo, để nghe bản thân nói về mình. Và chắn chắn trong những bài phát biểu của luật sư bào chữa cho tôi và luật sư bên nguyên một lí tưởng tuyệt vời là nói về tôi; hơn nữa, trong thực tế, về cá nhân con người tôi hơn là về tội lỗi của tôi.

Thực sự cũng không có bất cứ sự khác biệt lớn lao nào lắm giữa hai bản luận tội. Luật sư biện hô giơ cánh tay của gã lên tận trời xanh và cam kết tội lỗi, nhưng với nhiều tình tiết giảm nhẹ. Ủy viên công tố có những cử chỉ tương tự; ông đồng ý rằng tôi phạm tội, nhưng phủ nhận những tình tiết giảm nhẹ.

Một điều về công đoạn này của phiên tòa có phần tẻ nhạt. Thường là, thú vị khi tôi là những gì họ đang nói tới, tôi đã cố gắng nói gì đó, về bản thân mình. Nhưng luật sư của tôi đã khuyên tôi đừng. “Cậu không nên làm vậy trong trường hợp của cậu dù tốt để nói”, gã đã cảnh báo tôi. Thực tế, dường như có một thông đồng để loại tôi khỏi mọi tiến trình tòa án; Tôi đã không có gì phải nói và định mệnh của tôi đã bị quyết định ngoài tầm với của tôi rồi.

Hoàn toàn là một sự cố gắng nhiều lần đối với tôi, cố kiềm chế việc để sự việc tất cả đều ngắn gọn, và nói: “Nhưng, thật đốn mạt, ai là người được xử trong phiên tòa này, tôi muốn được biết? Đó là một vấn đề nghiêm trọng đối với một con người, bị kết tội giết người. Và tôi có vài điều thực sự quan trọng để nói với mọi người”.

Tuy nhiên, ý nghĩ trong một giây, tôi nhận ra tôi chẳng có gì để nói. Trong bất cứ trường hợp nào, tôi phải thú nhận nghe bản thân nói về mất mát thú vị hơn nhiều. Đặc biệt là, bài phát biểu của Ủy viên công tố, bắt đầu làm tôi buồn tẻ trước khi ông đi được nửa hành trình. Có những điều thực sự chỉ gây được sự chú ý của tôi là những quãng nghỉ tình cờ, thái độ của ông, và một vài chỉ trích kĩ lưỡng của ông – nhưng nhưng thứ này là những mảng miếng vá loang lổ cô độc.

Ông ta đang hướng tới điều gì, tôi tóm lược, là chỉ ra tội lỗi của tôi, đã suy tính trước. Tôi nhớ lời nói của ông khoảnh khắc đó, “Tôi có thể chứng minh điều này, những quí ông đáng kính của bồi thẩm đoàn, thấu đáo đến tận cùng. Thứ nhất, các ông đã có những cứ liệu về việc phạm tội; mọi thứ đã rõ ràng như ánh sáng của ban ngày. Và tiếp đến các ông đã có những gì mà có lẽ tôi gọi là khía cạnh bóng đêm của vụ án này, kết quả mờ ám của một tội phạm tâm thần”.

Ông ta bắt đầu tóm lược những cứ liệu, từ cái chết của mẹ tôi. Ông ta nhấn mạnh điểm không có trái tim của tôi, không biết tới tuổi của mẹ, chuyến đi tới bể bơi của tôi nơi tôi đã gặp Marie, buổi biểu diễn tại rạp chiếu phim nơi có bộ phim của Fernandel đang trình chiếu, và cuối cùng sự trở lại của tôi với Marie tại phòng tôi. Đầu tiên, tôi đã hoàn toàn không thể theo được những điểm mốc của ông, khi ông tiếp tục nhấn mạnh về “quí cô của bị cáo” bởi vì đối với tôi cô ấy chỉ là thể là “Marie”. Sau đấy, ông nói về chủ đề của Raymond. Với tôi dường như cái cách ông lừa mị thực tế chỉ ra một sự khôn ngoan chắc chắn. Ông nói tất thảy đều nghe có vẻ hoàn toàn hợp lí. Tôi đã viết một bức thư, toàn bộ về Raymond để mời gọi bạn gái của anh ta tới phòng và chỉ cho thấy cô nàng đã ứng xử-tồi bởi một người đàn ông “tiếng tăm chả minh bạch chút nào”. Sau đó, trên bãi biển, tôi nhớ lại vụ đánh lộn với những kẻ thù của Raymond, kết cục Raymond đã bị thương. Tôi hỏi anh ta về khẩu súng ngắn ổ xoay và tôi tự trở lại với ý định sẽ sử dụng nó. Tiếp đến tôi bắn tên A rập. Sau phát súng đầu tiên tôi ngừng lại. Sau thì, “để chắc chắn hoàn thành được tốt công việc”, tôi đã nhả bốn phát đạn liên tục, không-chủ đích, và thật lạnh lùng, vào nạn nhân của tôi.

“Đó là chứng cớ của tôi”, ông nói. “Tôi đã mô tả với các ngài hàng chuỗi sự kiện dẫn người đàn ông này bắn vào xác chết, cảnh báo toàn tập về những gì cậu ta đang làm. Tôi nhấn mạnh điểm này. Chúng tôi không suy xét tới một hành động của giết người mà bị bỏ tù vì hành động bốc đồng đột ngột có lẽ sẽ được xem xét như một tình tiết giảm nhẹ. Tôi nhắc các ngài ghi nhớ, những quí ông của bồi thẩm đoàn, rằng tù nhân này là một người đàn ông có học. Các ngài đã dõi theo cách cậu ta đã trả lời các câu hỏi của tôi; cậu ta thông minh và cậu ta biết được giá trị của ngôn từ. Và khi tôi nhắc lại là hoàn toàn khó có khả năng để giả bộ rằng, khi cậu ta đã khẳng định việc phạm tội, cậu ta không ý thức về những gì cậu ta đang làm”.

Tôi nhận ra ông xoáy mạnh vào “trí thông minh” của tôi. Điều này khiến tôi thắc mắc tại sao lại được coi như là một điểm tốt đối với một con người bình thường nhưng vẫn vậy thôi lại trở thành chống đối một người đàn ông bị kết án, bởi đó là một bằng cớ bao trùm về tội lỗi của anh ta. Trong lúc nghĩ cho ra vấn đề này, tôi bỏ lỡ những gì ông nói tiếp theo, cho tới khi tôi nghe thấy ông cảm thán đầy căm phẫn: “Và liệu cậu ta có thốt ra một từ nào hối lỗi cho hành động tội lỗi bỉ ổi nhất của cậu ta? Không một lời nào, thưa các quí ngài. Không một lần trong mọi tiến trình của tòa án người đàn ông này ít nhất có một lần chỉ ra có ăn năn?”.

Quay hẳn về phía vành móng ngựa, ông chỉ ngón tay vào tôi, và tiếp tục giọng căng thẳng như vậy. Tôi thực sự không thể hiểu tại sao ông lại nhay đi nhay lại điểm này quá nhiều. Tất nhiên, tôi có hiểu rằng ông đúng; tôi đã không cảm giác hối lỗi nhiều lắm cho những gì tôi đã làm. Song, đối với suy nghĩ của riêng tôi ông đã làm quá nó lên, và tôi muốn có một cơ hội giải thích với ông, trong tư cách hầu như tình cảm nhất, hoàn toàn thân thiện, rằng tôi chưa từng bao giờ thực sự phải hối lỗi điều gì trong tất cả cuộc đời tôi. Tôi luôn luôn ở xa đến mức mê mải trong khoảnh khắc hiện tại, hoặc tương lai tức thời, để nghĩ lại. Dĩ nhiên, ở vị trí tôi đã bị đẩy tới, không có một câu hỏi nào bằng giọng của tôi đến một ai với âm lượng ấy. Tôi đã không có quyền chỉ ra bất cứ cảm nhận thân tình hay sở hữu bất cứ ý định tốt đẹp nào. Và tôi cố để theo dõi điều gì tiếp theo, khi Ủy viên công tố đang băn khoăn cái mà ông gọi là “linh hồn” của tôi.

Ông nói ông đã nghiên cứu nó rất kĩ – và đã tìm ra một khoảng trống, “chả có ý nghĩa gì cả, thưa quí ngài trong bồi thẩm đoàn”. Thực là, ông nói, tôi không có linh hồn, chẳng có một loại người nào như tôi, không có một ai có những tính cách đạo đức như thế mà những người đàn ông bình thường sở hữu một được vị trí trong tâm trí tôi. “Không nghi ngờ gì nữa”, ông kết luận, “chúng ta không nên làm cậu ta xấu hổ vì điều này. Chúng ta không thể đổ lỗi cho một người đàn ông bởi thiếu cái gọi là chưa từng có trong khả năng của cậu ấy để đòi hỏi. Nhưng trong một phiên tòa tội phạm với lí tưởng của tha thứ tất thảy, cần phải có một vị trí đạt công lí hoàn hảo cao quí hơn, cứng rắn hơn. Đặc biệt là sự thiếu thốn mọi bản năng tử tế kiểu như người đàn ông này trước các ngài, một sự đe dọa đối với xã hội”. Ông vượt tới bàn cả đạo đức của tôi với mẹ tôi, nhắc lại rằng ông đã nói trong cả phiên tòa nghe thấy. Nhưng ông nói  với mức độ phạm tội của tôi khủng khiếp hơn nhiều  – và cả thời gian thực hiện, thật ra, tôi đã mất đầu mối và chỉ đủ tính táo để chống chọi với cái nóng ngày càng tăng lên rõ rệt.

Mỗi khoảnh khắc khi Ủy viên công bố ngừng lại, và sau một khoảng im lặng ngắn, ông nói trong một giọng bật, thấp: “Đây là phiên tòa tương tự, thưa các quí ông, sẽ được gọi vào xử ngày mai cũng là kiểu tội phạm ghê tởm nhất, vụ con trai giết cha”. Đối với tâm trí của ông, loại tội phạm kiểu này không thể nào tưởng tượng nổi. Nhưng, ông mạo muội hi vọng, công lí sẽ phải được thực thi chứ không thể bỏ qua. Và song, ông nhấn mạnh nói, sự khủng khiếp thậm chí kiểu tội phạm con giết cha hay mẹ làm ông nhợt nhạt bên cạnh đó căm thù đem lại sự nhẫn tâm trong tôi.

“Người đàn ông này,  là người phạm tội đạo đức đối với cái chết của mẹ cậu ta, không còn phù hợp chút nào để có được một chỗ đứng trong cộng đồng hơn người đàn ông kia đã giết cha để bảo tồn bản thân. Và, thực ra, hành động tội lỗi của người này có ảnh hưởng tới người kia; trước tiên trong hai loại tội phạm này, người đàn ông đang đứng trên vành móng ngựa đây, được xử trước, và nếu có thể tôi nói mạnh, vụ án thứ hai cũng tương tự. Vâng, các ngài yêu quí, tôi đảm bảo” – lúc này giọng ông dâng lên một mức nữa – “các ngài sẽ phải thấy là tôi đã không xử quá trường hợp này nhằm chống lại bị cáo khi tôi nói rằng, cậu ta phạm cũng tội giết người chính tại phiên tòa này xử vào ngày mai. Và tôi mong các ngài ra một lời phán quyết chính xác”.

Ủy viên công tố dừng lại một lần nữa, để lau mồ hôi khỏi gương mặt ông. Sau đó ông giải thích, nhiệm vụ của ông là một nhiệm vụ đau đớn, nhưng ông sẽ vẫn làm nó mà không lưỡng lự. “Người đàn ông này, tôi nhắc lại, không có một chỗ đứng trong một cộng đồng với những nguyên tắc cơ bản, cậu ta đã lăng nhục mà không ăn năn gì. Không, người không có trái tim là cậu ta, không xứng đáng được nhận hạnh phúc. Tôi yêu cầu các ngài thực thi luật pháp mà không đánh tráo khái niệm; và tôi yêu cầu xử ngay không e sợ. Trong một thời gian dài theo đuổi nghề nghiệp của mình, ở đây tôi thường có trách nhiệm yêu cầu xử tử hình, chưa từng khi nào tôi cảm thấy trách nhiệm đớn đau có chút nặng nề trong tâm trí tôi như vụ án này. Để đòi hỏi một lời phán quyết phạm tội mà không có bất cứ tình tiết giảm nhẹ nào, tôi theo đuổi nó không chỉ thấy rõ sự tỉnh táo của tôi và một nghĩa vụ bất khả xâm phạm, nhưng cũng là một trong những sự phẫn nộ đúng đắn và tự nhiên tôi cảm không lóe lên chút gì cảm nhận của loài người”.

Khi Ủy viên Công tố ngồi xuống có một khoảng lặng dài nhất. Cá nhân tôi hoàn toàn đã vượt qua bởi cái nóng và điều vui thú mà tôi đã và đang nghe được. Quan tòa phán xử đã ho ngắn, và hỏi tôi với một giọng thấp, tôi còn điều gì để nói. Tôi đứng dậy, và tôi ở trong tâm trạng tôi muốn nói, tôi nói điều đầu tiên xuất hiện qua trí não tôi: Tôi không có ý định giết người A rập. Quan tòa đáp lại, điều này có thể sẽ được tòa án xem xét. Trong khi vui khi nghe điều đó, trước khi luật sư biện hộ của tôi nói với tòa, những động lực nào khiến tôi phạm tội. Hơn nữa, gã phải thú nhận, gã hoàn toàn không hiểu được nền tảng sự bảo vệ bạn của tôi.

Tôi đã cố gắng giải thích đó là bởi vì mặt trời, nhưng tôi đã nói quá nhanh và những lời của tôi đã chạy xô vào nhau. Tôi chỉ còn cố tỉnh táo để những âm thanh không quá vô nghĩa, và, trong thực tế, tôi nghe thấy mọi người đang xì xào.

Luật sư của tôi nhún vai. Sau đó gã trực tiếp biện hộ trước tòa, khi đến lượt gã. Nhưng tất cả gã làm là chỉ ra đã muộn giờ và đề nghị được hoãn phiên tòa cho tới buổi chiều hôm sau. Với điều này quan tòa đồng ý.

Khi tôi được mang trở lại tòa ngày hôm sau, những chiếc quạt điện vẫn tiếp tục quay vòng tít trong không khí nặng nề và những người đàn ông của bồi thẩm đoàn đang miệt mài những chiếc quạt tay nhỏ bé sặc sỡ trong một nhịp điệu chắc chắn. Lời biện hộ của luật sư dường như đối với tôi dài vô tận. Tại một khoảnh khắc, tuy nhiên, tôi đã lãng tai mình ra; là lúc tôi nghe thấy luật sư nói: “Đây là sự thật tôi đã giết người”. Gã tiếp tục với một sự căng thẳng đều đều, nói “tôi” khi gã đề cập tới tôi. Điều này dường như quá kì lạ để tôi quì trước cảnh sát bên phải tôi và yêu cầu ông cho tôi giải thích. Ông bảo tôi câm miệng; sau đó, sau khoảnh khắc ấy, thì thầm: “Họ đã làm tất cả điều đó”. Dường như đối với tôi đó là ý tưởng nằm phía sau, nó đẩy xa tôi ra khỏi hẳn phiên tòa, đẩy tôi lạc khỏi quĩ đạo. Để nói rằng, luật sư đã thay thế cho bản thân tôi. Dầu sao, đó là cả một vấn đề nặng nề; tôi thực sự cảm thấy những thế giới đã xa rời khỏi phiên tòa này và “những tiến trình” tẻ nhạt của nó.

Luật sư của tôi, dầu trong trường hợp nào, đẩy tôi vừa nhu nhược vừa đáng nhạo.  Gã ào ào lời biện hộ đầy khiêu khích của gã, và sau đó, gã cũng bắt đầu nói về linh hồn tôi. Nhưng tôi có một ấn tượng gã ít tài năng hơn nhiều so với Ủy viên Công tố.

“Tôi cũng”, gã nói, “có một nghiên cứu chặt chẽ về tâm hồn của người đàn ông này; nhưng, không giống với bạn học của tôi về khởi tố khởi kiện, tôi đã tìm được một vài điều ở đây. Thực sự, tôi có thể nói rằng tôi đã đọc được tâm trí của thân chủ tôi trong một cuốn sách mở”. Những gì gã đọc được về tôi ở đó là tôi là một chàng trai trẻ tuyệt vời, một công chức tận tâm, chắc chắn, người có thể làm những điều tốt nhất cho ông chủ của mình; rằng tôi quảng giao với mọi người và cảm thông với những rắc rối của người khác. Theo gã, tôi là một người con trai có trách nhiệm, người đã giúp đỡ mẹ của mình trong một thời gian mà tôi có thể. Sau suy xét căng thẳng tôi đã đưa đến một kết luận, bước về nhà, mẹ già đã hài lòng với những gì tôi chuẩn bị, bà cấm tôi đã cung cấp thêm cho bà. “Tôi là một kinh ngạc, thưa quí ngài bồi thẩm đoàn”, gã nói thêm, “bằng thái độ của những người bạn học của tôi có nói tới trong Viện Dưỡng lão. Chắc chắc là nếu cần chứng minh điều tuyệt hảo của những viện giống như thế này, chúng tôi chỉ cần nhớ rằng họ đang được khuyến khích và hỗ trợ tài chính bởi bộ phận của chính phủ”. Tôi nhận thấy rằng gã đã không đề cập gì tới đám tang, và điều này dường như đối với tôi là một sự loại trừ nghiêm trọng. Nhưng, với những gì gã nói một mạch, những ngày và những giờ không có hồi kết đều đã và đang bàn về “tâm hồn” của tôi, và phần còn lại là, tôi nhận ra tâm trí của tôi đã trở nên lờ mờ; mọi thứ đang dần dần biến thành một sự mơ hồ, sương mù, xám xịt.

Chỉ có một tình tiết lóe lên; đến tận cùng, trong khi luật sư bảo vệ tôi đang rông dài, tôi nghe thấy tiếng kèn thiếc của một người bán kem dạo trên phố, một tiếng động nhỏ ré lên cắt ngang qua dòng của những ngôn từ. Và sau đó một sự vội vã của những kí ức đã quan tâm trí tôi – những kí ức của một cuộc đời đã từng là của tôi không lâu nữa đã và đang một lần cung cấp cho tôi những vui thú bình dị nhất, chắc chắn nhất: Những mùi vị ấm áp của mùa hè, những con phố yêu thích của tôi, bầu trời vào đêm, những chiếc váy của Marie và tiếng cười to của nàng. Chẳng còn khát vọng thành công vào những gì đang xảy ra ở đây, dường như đã khiến mọi thứ dâng lên cổ tôi, tôi cảm giác giống như đang nôn, và tôi chỉ có một ý tưởng: Để mọi thứ qua đi, để quay lại buồng giam, và ngủ… rồi ngủ.

Mơ hồ tôi nghe luật sư biện hộ cho tôi đưa ra những chứng cứ cuối cùng.

“Những quí ngài của bồi thẩm đoàn, chắc chắn các ông sẽ không buộc một thanh niên chăm chỉ làm việc, tử tế phải chết chứ, bởi vì một khoảnh khắc thảm họa cậu ấy đã mất kiểm soát? Cậu ấy không bị phạt một cách đáng kể bởi hối lỗi cả đời cho những mất mát mà cậu ấy phải chịu ư? Tôi tin tưởng chờ đợi phán quyết của các ngài, chỉ phán quyết có thể – vụ giết người với nhiều tình tiết giảm nhẹ”.

Phiên tòa tạm nghỉ, luật sư ngồi xuống nhìn trông khá kiệt sức. Một trong những đồng nghiệp của gã đến gặp và bắt tay gã. “Cậu đã có một buổi trình bày đáng nể, cậu bạn già à?”, tôi nghe thấy một trong bọn họ nói vậy. Một luật sư khác gọi tôi tới đối chứng: “Tốt, phải không nào”. Tôi đồng ý nhưng không thật sự chân thành; tôi đã quá mệt mỏi để phán xét nó là “tốt” hay không nữa rồi.

Trong khi ngày đã qua và sức nóng đã trở nên bớt hơn rồi. Bởi vài tiếng động mơ hồ vọng tới tôi, tôi biết mát mẻ của đêm đã bắt đầu. Tất cả chúng tôi ngồi xuống, chờ đợi. Và điều tất cả chúng tôi đang chờ đợi thực sự không liên quan đến ai khác trừ tôi. Tôi nhìn quanh phòng xử án. Tôi gặp những ánh mắt của các phóng viên màu xám và ả người máy. Điều này nhắc nhở tôi rằng không chỉ một lần trong suốt quá trình nghe xử tôi cố gắng bắt được ánh nhìn của Marie. Nó không phải là tôi đã quên nàng; chỉ vì tôi bị bao vây quá. Tôi nhìn thấy nàng lúc này, ngồi giữa Céleste và Raymond. Nàng vẫy tay nhẹ về phía tôi, dường như nói, “Gần kết thúc rồi!”. Nàng đang mỉm cười, nhưng tôi có thể nói rằng nàng đang lo lắng ghê gớm. Nhưng trái tim tôi dường như hóa đá, và tôi thậm chí không thể mỉm cười đáp lại nàng.

Các quan tòa, bồi thẩm trở lại chỗ ngồi. Ai đó đọc to cho bồi thẩm đoàn, rất nhanh, một chuỗi câu hỏi. Tôi bắt được từ vựng lúc được lúc không. “Cố tình phạm tội chống đối lại luật pháp… Khiêu khích… Những tình tiết giảm nhẹ”. Bồi thẩm đoàn ra ngoài, và tôi được dẫn vào một phòng nhỏ nơi tôi đã chờ đợi. Luật sư của tôi đến gặp tôi; gã nói rất rất nhiều và chỉ rõ thân tình lịch thiệp và tin tưởng hơn trước đây nhiều. Gã trấn an tôi, mọi thứ đang tốt đẹp và tôi sẽ được thả sau vài năm ở tù hoặc thuyên chuyển. Tôi hỏi gã những cơ hội kết án tử hình liệu đã miễn nhiễm. Gã đáp không có chuyện kết án tử hình. Gã không nêu được bất cứ quan điểm luật nào, trong khi điều này phụ thuộc vào quyết định của bồi thẩm đoàn. Và thật khó để có một sự phán quyết đưa ra từ những nền tảng kĩ thuật. Tôi nhìn thấy quan điểm của gã, và đồng ý nhìn vấn đề một cách thiếu đam mê, tôi chia sẻ góc nhìn của gã. Hoặc không sẽ chẳng đi được tới quyết định cuối cùng. “Trong mọi tình huống”, luật sư nói, “cậu có thể bộc lộ bình thường. Nhưng tôi được rõ lời phán quyết có thể chấp nhận được.

Chúng tôi chờ thêm một chốc, khoảng bốn mươi nhăm phút của một giờ, tôi nên nói vậy. Sau đó một tiếng chuông rung. Luật sư rời khỏi chỗ tôi, nói:

“Người đại diện của bồi thẩm đoàn sẽ đọc to những câu trả lời. Cậu sẽ được gọi ra sau khi có lời phán quyết”.

Vài cánh cửa đóng sầm. Tôi nghe mọi người vội vã bước xuống cầu thang, nhưng không thể nói rõ họ ở gần hay xa. Sau đó tôi nghe một giọng nói xa trầm trong phòng xử án.

Khi tiếng chuông reo lần nữa và tôi bước trở lại vành móng ngựa, không khí im lặng của tòa án quấn chặt quanh tôi, và với sự im lặng đến một tinh thần kì lạ khi tôi nhận ra rằng, đây là lần đầu tiên cậu phóng viên trẻ đã nhắm mắt quay đi. Tôi đã không nhìn hướng tới Marie. Thực tế, tôi không có thời gian để nhìn, khi phán xử đã bắt đầu tuyên bố bằng mô tả lẫn lộn, để kết cục là, “nhân danh nhân dân Pháp” tôi sẽ bị chặt đầu trước công chúng.

Sau đó, dường như đối với tôi, tôi có thể hiểu được ánh nhìn từ những gương mặt của họ lúc này; nó hầu hết là một trong những cảm thông kính trọng. Các cảnh sát cũng đỡ tôi rất dịu dàng. Luật sư đặt tay gã lên cổ tay tôi. Tôi đã dừng lại không nghĩ ngợi gì cả. Tôi nghe thấy giọng của quan tòa hỏi tôi có điều gì nữa để nói không. Sau khi nghĩ một lát, tôi trả lời, “không”. Sau đó, cảnh sát dẫn tôi đi.

(Hết chương IV, phần II)

Còn tiếp

(*) Hóa ra Meursault không hề bị tâm thần. Có tâm thần chăng là do cái nhìn của những con người bình thường, những con người săm soi dự tòa, nhất quyết phải nhìn ra, đã giết người thì phải làm sao đó. Camus cứ tà tà kể. Dưới mắt nhìn của một Camus, cậu thanh niên kia không còn khả năng để chống lại những gì phiên tòa đã sắp đặt với chàng. Camus không lên án ai, nhưng mọi thứ nó cứ hiển hiện ra thật rõ. Sao nhỉ, một bị cáo không quan tâm tới định đoạt số phận của chính mình tại phiên tòa quan trọng, mà lại quan tâm tới âm thanh, tiếng động của cuộc sống vẳng tới từ bên ngoài. Ờ mà thanh niên đó, yêu cuộc sống tới vô ngần, nhưng không thể nào nói nổi một câu để biện minh cho chính mình.

Còn một chương nữa thôi là sẽ khép lại số phận của một con người, một nhân vật chính mà Camus đã viết từ năm 1942. Điều đáng nói ở đây, sau đó 4 năm, ở nước Mỹ xa xôi, Gilbert cũng dường như quá thấu hiểu và dịch lại cho người đọc hiểu được một Camus nhân sinh, cụ tỉ. Năm 1989 có thêm Ward, rồi năm 2013 cũng còn một bản dịch mới của “L’Estranger” của Camus. Sau khi có mặt trên kệ sách 15 năm sau, “Người lạ” của Camus được trao giải Nobel.

15 năm đủ để vinh danh một tác phẩm, nhưng có lẽ mất nhiều năm sau để độc giả hiểu được những dư vị của một tác phẩm “ngọt ngào”.

Một bác nhà văn đáng kính có cảnh báo mình rằng: Camus cũng như Shakespears, chẳng ai quan tâm là ai dịch, dịch thế nào nữa rồi. Nhưng dầu sao, để mang đến một Camus đúng nghĩa (hi vọng thế), thật khó làm sao. Và mình đang thật cố gắng. Cảm ơn nhiều sự động viên, và nhiều lời chỉ giáo.

 

 

Người lạ (tiếp theo 19)

camus-fumando-1024x706

Albert Camus. Nguồn ảnh: Internet.

NGƯỜI LẠ

Albert Camus

Dựa theo bản dịch tiếng Anh từ tiếng Pháp của Stuart Gilbert (N.H.T chuyển ngữ (*)/Phần 2/Tiếp)

>> Phần trước

 

Phần II

III

TỔNG THỂ  thì tôi không thể nói rằng những tháng này qua đi chậm rãi; mùa hè khác đang trên đường tới nơi rồi trước khi tôi nhận ra mùa hè đầu tiên đã qua. Và tôi biết rằng với những ngày đầu tiên thật sự nóng, một điều gì mới đang tích trữ trong tôi. Trường hợp của tôi đã đi tới những phần cuối của phiên tòa đại hình, những thủ tục này sẽ có hạn kết thúc vào thời gian nào đó trong tháng Sáu.

Cái ngày phiên tòa luận tội của tôi bắt đầu là một trong những ngày nắng trời rực rỡ. Luật sư của tôi thông báo với tôi phiên tòa chỉ mất hai hoặc ba ngày. “Đó là tôi nghe thấy thế”, luật sư nói, “phiên tòa sẽ xử trường hợp của cậu càng nhanh càng tốt, bởi đây không phải là một trường hợp quan trọng nhất trong Danh sách các vụ án. Ngay sau đây là trường hợp kẻ giết cha, vụ này mới mất nhiều thời gian”.

Họ đến gặp tôi lúc bảy rưỡi sáng và tôi bị áp giải tới tòa án pháp luật trong một chiếc xe bán tải của nhà tù. Hai cảnh sát nam dẫn tôi vào trong một phòng nhỏ ở đó ngửi ra mùi của bóng tối. Chúng tôi ngồi gần một cửa đi mà những âm thanh giọng nói, tiếng quát, kéo ghế trên sàn có thể lọt ra ngoài; một tiếng huyên náo mơ hồ đánh thức tôi về một trong những “xã hội” của thị trấn bé nhỏ này lúc buổi hòa nhạc đã qua đi, sảnh phòng đã sạch bong để dành cho nhảy nhót.

Một trong hai cảnh sát áp giải của tôi nói với tôi, các chánh án chưa tới, họ cho tôi một điếu thuốc lá, nhưng tôi từ chối. Sau một lát cảnh sát hỏi tôi, có cảm giác lo lắng không. Tôi đáp, “không” và triển vọng là những nhân chứng trong phiên tòa dàn dựng khiến tôi thích thú hơn; Tôi chưa bao giờ có dịp dự một phiên như vậy.

“Có lẽ”, cảnh sát khác nói, “Nhưng chỉ một hay hai giờ thôi là thấy đủ khác”.

Sau một lát một chiếc chuông điện nhỏ rung lên trong phòng. Họ tháo còng tay của tôi, mở cửa, và dẫn tôi lên bục của tù nhân.

Có một đám đông lớn trong phòng xử án. Thông qua những tấm mành mành thả xuống, ánh sáng lọt qua những kẽ hở, và không khí đã vô cùng ngột ngạt. Những chiếc cửa sổ vẫn đóng chặt. Tôi ngồi xuống, và nhân viên cảnh sát đứng mỗi bên cạnh ghế của tôi.

Sau đó tôi nhận ra có một hàng những gương mặt đối diện tôi. Những con người này đang nhìn chằm chằm khó nhọc vào tôi, và tôi đoán họ là bồi thẩm đoàn. Nhưng tôi không thể nhìn thấy họ như những cá nhân. Tôi cảm giác như bạn vừa mới lên một chiếc xe đò và bạn cảnh giác trước tất cả những người đang ngồi ghế đối diện nhìn chằm chằm vào bạn với hi vọng tìm thấy điều gì đó trong vẻ bề ngoài của bạn khiến họ buồn cười. Tất nhiên, tôi biết đây là một sự so sánh khập khiễng; những con người này đang tìm kiếm ở tôi điều gì đó chứ không phải cái gì để đáng cười to, những tín hiệu của phạm tội. Song, sự khác nhau không quá lớn lắm, và, dầu sao, đó là ý tưởng tôi có lúc đó.

Với đám đông và không khí bức bối tôi đang cảm thấy hơi ong ong. Tôi đưa mắt mình xa khỏi tòa án nhưng không thể nào nhận ra bất cứ gương mặt nào. Ban đầu tôi khó có thể tin tất cả những con người này đến để dự phiên tòa của tôi. Nó kiểu như kinh nghiệm mới, trở nên tập trung vào một sở thích; trong một cách thông thường không một ai được trả tiền nhiều để chú ý tới tôi.

“Đông khiếp nhỉ!”, tôi ghi nhận với cảnh sát bên trái tôi, và cảnh sát giải thích báo chí có trách nhiệm về điều này.

Cảnh sát chỉ vào một nhóm người đàn ông tại một cái bàn ngay phía dưới ô của bồi thẩm đoàn. “Họ đấy!”.

“Ai cơ?”, tôi hỏi, và cảnh sát đáp, “Báo chí”. Một trong họ, cảnh sát nói thêm, là một người bạn già của anh.

Lúc sau, người đàn ông mà cảnh sát chỉ đã nhìn tới chúng tôi và bước tới bục tù nhân, bắt cả hai tay đầy thân mật với cảnh sát. Phóng viên là một người đàn ông trung niên với một biểu hiện hơi dữ tợn, nhưng thái độ của ông thì hoàn toàn bình thản. Chỉ khi tôi nhận ra hầu hết con người trong phòng xử án đang chào hỏi lẫn nhau, trao đổi thông tin và hình thành nên các nhóm – đối xử với nhau, trong thực tế, giống như trong một câu lạc bộ nơi một nhóm người có chung sở thích và đứng với nhau khiến ai đó lúng túng. Vâng, không nghi ngờ gì nữa, để giải thích ấn tượng không giống ai tôi trở thành người thừa ở đây, một kiểu kẻ-đạp-đổ-cổng.

Tuy nhiên, phóng viên đối xử với tôi hoàn toàn dễ thương, và nói ông hi vọng tất cả sẽ tốt đẹp đối với tôi. Tôi cảm ơn ông, và ông nói thêm với một nụ cười:

“Cậu biết đấy, chúng tôi đã làm phóng sự về cậu đôi chút. Chúng tôi luôn luôn có một ấn bản ngắn trong mùa hè, và có chút đáng giá để viết về trường hợp ngoài lề của cậu và phiên tòa sau đó. Tôi hi vọng cậu đã nghe về nó; trường hợp con giết cha”.

Ông kéo sự chú ý của tôi tới một trong các nhà báo ở bàn báo chí, một người đàn ông người nhỏ, béo đeo đôi kính to đùng viền đen, người khiến tôi nghĩ là một con chồn được chăm sóc quá mức.

“Anh bạn đó là một phóng viên đặc biệt của một trong những Nhật báo Paris. Vấn đề của thực tế là, anh bạn đó không quan tâm tới trường hợp của cậu. Anh được gửi đến cho vụ con giết cha, nhưng họ cũng yêu cầu anh lo luôn cả trường hợp của cậu”.

Lưỡi tôi lập tức uốn nói: “Họ rất chi là tử tế”, nhưng sau đó tôi lại nghĩ nó giống như ngờ nghệch. Vẫy tay thân ái chào tạm biệt chúng tôi, và một vài phút không có chuyện gì xảy ra.

Sau đó, kết hợp cùng với một vài đồng nghiệp, luật sư của tôi xăng xái, trong bộ quần áo của luật sư. Luật sư bước tới bàn báo chí và bắt tay các nhà báo. Họ tiếp tục cười to và tán chuyện cùng nhau, tất cả dường như rất giống họ đang ở nhà mình lúc này ở đây, cho đến khi tiếng chuông rung lên lảnh lót và mọi người ai vào chỗ của mình. Luật sư của tôi đến chỗ tôi, bắt tay và khuyên tôi trả lời tất cả các câu hỏi một cách càng ngắn gọn càng tốt, không phải thông tin tự nguyện, và nhớ  lựa ý luật sư với mỗi câu trả lời xong.

Tôi nghe tiếng ghế kéo bên trái tôi, và một người đàn ông gày, cao đeo chiếc kính kẹp mũi, áo choàng đỏ khi ông ngồi vào chỗ của mình. Ủy viên công tố, tôi để ý. Một thư kí của phiên tòa tuyên bố Người Đáng kính của họ đang bước vào, và cùng khoảnh khắc đó hai chiếc quạt điện to đùng bật vè vè ngay trên đầu. Ba thẩm phán, hai người mặc áo đen và người thứ ba áo đỏ, với những chiếc va-li tài liệu trong tay họ, bước vào và đi những bước chắc chắn tới chiếc ghế băng dài, chỉ cao hơn một vài feet so với mức sàn của phòng xử án. Người đàn ông mặc áo đỏ ngồi ở chiếc ghế có tựa cao ở giữa, để chiếc mũ văn phòng của ông lên bàn, dùng khăn tay lau chiếc đầu hói nhỏ của ông, và tuyên bố mọi việc bắt đầu lúc này.

Các phóng viên đã sẵn sàng bút bút bi của họ; Tất cả họ mặc phía ngoài không khác gì nhau hơi cứng nhắc, trừ một người, một người đàn ông trẻ hơn những đồng nghiệp của anh, diện sơ mi sợi tổng hợp màu xám thắt cà vạt xanh da trời, anh vừa bỏ chiếc bút máy lại trên bàn, nhìn chằm chằm vào tôi chăm chú. Anh có một gương mặt hơi phính, cân phân; điều gây sự chú ý của tôi là đôi mắt anh, mắt rất trong, mệt mỏi, nhìn trực diện vào tôi, mặc dầu không thể hiện rõ tình cảm gì. Vào một lúc tôi có một ấn tượng kì lại, dường như tôi bị soi xét kĩ bản thân mình. Đó – và thực tế là tôi đã không quen với tiến trình tòa án – có thể giải thích tại sao tôi đã không thể theo kịp nhưng đoạn bắt đầu: nhiều bức kí họa về bồi thẩm đoàn, hàng loạt câu hỏi được quan tòa chủ tọa hỏi ủy viên công tố, chủ tịch ban hội thẩm, và luật sư bào chữa của tôi (mỗi lúc gã nói tất cả đầu của những đàn ông trong bồi thẩm đoàn để rung lên cùng nhau theo chiều chiếc ghế băng), đọc nhanh bảng luận tội, trong phiên tòa tôi nhận ra một vài cái tên giống nhau của con người và nơi chốn cũng giống nhau; sau đó vài câu hỏi bổ trợ được gửi tới cho luật sư của tôi.

Tiếp theo, Quan tòa tuyên bố phiên tòa sẽ gọi hàng loạt nhân chứng theo danh sách. Một vài cái tên được thư kí đọc to lên thậm chí khiến tôi ngạc nhiên. Từ trong đám đông, cho đến giờ tôi nhìn thấy những khối mờ mờ của các gương mặt, mặt này tiếp mặt kia, Raymond, Masson, Salamano, bảo vệ từ Viện dưỡng lão, Pérez già cả, và Marie, nàng mang tới cho tôi một chút lo lắng nhẹ vì cái vẫy tay của nàng trước những người khác ngay từ ngoài cửa. Tôi đang nghĩ lạ lùng làm sao khi tôi chẳng nhận ra họ trước khi tôi nghe thấy cái tên cuối cùng đọc lên, đó là Céleste. Khi anh đứng dậy, tôi nhận ra bên cạnh anh một phụ nữ bé nhỏ xinh lạ mặc chiếc áo khoác của đàn ông và nhanh nhẹn, người đã quyết định không khí, người đã ngồi cùng bàn với tôi tại nhà hàng. Mắt ả đóng cứng vào tôi, tôi đã nhận ra. Nhưng tôi không có thời gian để băn khoăn về ả; Quan tòa đã bắt đầu đặt những câu hỏi tiếp tục.

Quan tòa cho biết phiên tòa giả định thích hợp để bắt dầu, và ông cần nói nghiêm túc, ông hi vọng đám đông cần kiềm chế bất cứ sự căng thẳng nào dù có chuyện gì xảy ra. Ông giải thích ông đang ở đây để kiểm soát tiến trình, như kiểu của trọng tài, và ông sẽ có quan điểm từng phần tỉ mỉ của vụ án này. Lời phán quyết của bồi thẩm đoàn sẽ được ông tuyên bố trong tinh thần của công lí. Cuối cùng, nếu có bất cứ tín hiệu nào gây nhiễu ông sẽ làm rõ tại phiên tòa.

Ngày được đốt nóng hầm hập. Một trong những công dân đang quạt cho bản thân mát bằng những tờ báo, và có tiếng sột soạt đều đặn của tờ báo giấy bị vò nhăn nhúm. Một tín hiệu từ quan tòa chủ tọa, thư kí của phiên tòa mang ba chiếc quạt bện rợm, để ba quan tòa cùng phe phẩy.

Việc thẩm vấn tôi bắt đầu ngay lập tức. Quan tòa đặt câu hỏi cho tôi hoàn toàn bình tĩnh và thậm chí tôi nghĩ, còn có sự thân ái. Đến lần thứ n tôi được hỏi đưa ra chi tiết về nhân thân của tôi, và mặc dầu cảm thấy phát mệt từ tim vì những hình thức kiểu này, tôi nhận ra mọi thứ thật đủ tự nhiên; sau tất cả, sẽ là một điều đáng giật mình nếu phiên tòa đang cố gắng với một người đàn ông sai trái.

Quan tòa sau đó trình ra một tập tài liệu về những gì tôi đã làm, dừng lại sau chừng hai đến ba câu để hỏi tôi,  “Có đúng chứ?” để tôi luôn luôn đáp lời: “đúng thưa ngài” như luật sự đã khuyên tôi. Đó là một tiến trình dài, khi Quan tòa bám vào từng chi tiết. Trong khi các phóng viên bận rộn tốc kí. Nhưng tôi thỉnh thoảng lại tỉnh người bởi đôi mắt của người trẻ nhất chĩa vào tôi; cả ả người máy nhỏ bé lạ kì nữa chứ. Những người trong bồi thẩm đoàn, tuy nhiên, đều tất cả tập trung cả vào phán xét vụ cướp – đỏ, và tôi lại nhắc nhở tới đám khác ngồi một bên như trên một chiếc tàu điện. Hiện tại, ông ho nhẹ, giở một vài trang trong tập tài liệu của ông, và, vẫn còn quạt phe phẩy trên mặt, chú tâm cẩn trọng tới tôi.

Bây giờ ông đề xuất, ông nói, để đào sâu vào những vấn đề chính, trên một góc nhìn nông cạn, có lẽ dường như ngoài phiên tòa, nhưng thực tế có được tương thích cao. Tôi đoán là ông đang nói về Mẹ, và cùng với khoảnh khắc nhận ra tôi đã tìm ra điều này thật đáng ghét thế nào. Câu  hỏi đầu tiên của ông là: Tại sao tôi đã gửi mẹ tới Viện? Tôi đáp lại lí do hoàn toàn đơn giản: Tôi không có đủ tiền và biết bà được chăm sóc đúng đắn ở Viện Dưỡng lão. Sau đó ông hỏi tôi có phải việc chia sẻ không làm tôi đau  buồn quá. Tôi giải thích cả Mẹ và tôi đều không quá kì vọng vào nhau – hoặc, với vấn đề này, với bất kì ai khác nữa; bởi vì cả hai chúng tôi đều quen với những điều kiện mới đủ dễ dàng. Quan tòa sau đó bảo ông không hứa hẹn nhấn mạnh quan điểm, và hỏi Ủy viên công tố nếu như công tố có thể hỏi thêm bất cứ câu hỏi nào với tôi trong giai đoạn này.

Ủy viên công tố, một nửa người quay về phía tôi, nói, không hề nhìn về hướng tôi, rằng tùy theo Phán quyết của Phiên tòa, công tố muốn được biết việc tôi trở lại dòng suối với ý định giết tên A rập. Tôi trả lời, “không”. Trong trường hợp đó, tại sao tôi lấy khẩu súng ngắn đi cùng tôi, và tại sao lại trở lại đúng chính xác thời điểm đó? Tôi đáp lời thuần khiết đó là một vấn đề tình cờ. Công tố sau đó quan sát với giọng cáu kỉnh: “Rất tốt. Rồi tất cả để thế này đây”.

Tôi đã không thể theo dõi hoàn toàn những gì diễn ra tiếp theo. Dầu sao, sau những phiền nhiễu từ chiếc ghế băng, Ủy viên công tố, và luật sư bào chữa của tôi, quan tòa phán xử tuyên  bố phiên tòa lúc này đang lên; nhưng phiên tòa tạm nghỉ cho đến trưa, khi bằng chứng tập trung đủ.

Hầu hết trước đó tôi biết mọi điều gì đang xảy ra tôi được đưa vội ra xe bán tải của nhà tù, đưa tôi trở lại, và tôi được ăn bữa trưa. Sau một thời gian ngắn, chỉ đủ cho tôi nhận thấy tôi đang cảm thấy mệt mỏi thế nào, họ đến gặp tôi. Tôi được đưa trở lại phòng lúc trước, đối mặt với những gương mặt giống hệt, và tất cả mọi thứ bắt đầu lại. Nhưng cái nóng ngày một tăng lên, và bởi một vài người cổ vũ diệu kì được sắp đặt cho mọi người: bồi thẩm đoàn, luật sư của tôi, Ủy viên công tố, và cũng một vài nhà báo nữa. Người đàn ông trẻ và ả người may vẫn còn ở chỗ của họ. Nhưng họ không phe phẩy quạt nữa và , như trước đó, họ chưa bao giờ rời mắt khỏi tôi.

Tôi lau mồ hôi khỏi mặt mình, nhưng tôi hiếm khi tỉnh táo ở một nơi hoặc với ai cho đến khi tôi nghe quản lí Viện Dưỡng lão được gọi đến bục nhân chứng. Khi hỏi mẹ tôi có phàn nàn về cách cư xử của tôi, quản lí đáp, “có”, nhưng không nhiều lắm; hầu hết tất cả những người làm chứng của Viện dưỡng lão có những niềm tin bất lợi chống lại những mối quan hệ của họ. Quan tòa hỏi ông nói rõ thêm và trực tiếp hơn; có phải Mẹ đã phản ứng với tôi việc đưa bà tới Viện Dưỡng lão, và ông đáp: “Đúng”, lần nữa. Nhưng lần này ông đảm bảo được câu trả lời của ông.

Để trả lời câu hỏi khác ông đáp, vào cái ngày đám tang ông đã ngạc nhiên chừng nào về sự bình tĩnh của tôi. Yêu cầu giải thích ông có  ý thế nào “sự bình tĩnh của tôi”, quản lí Viện cụp mắt xuống và nhìn chằm chằm vào hai chiếc giày một lúc. Sau đó ông giải thích, tôi đã không muốn nhìn xác Mẹ, hoặc rỏ một giọt nước mắt, và tôi đã rời đi khỏi ngay lập tức sau khi đám tang kết thúc, không thèm ngó ngàng gì ngôi mộ của bà. Một điều khác nữa đã khiến ông ngạc nhiên. Một trong những điều hành lễ tang đã nói với ông tôi đã không biết tuổi của mẹ mình. Có một khoảng lặng ngắn; sau đó Quan tòa hỏi ông nếu ông có thể kết luận, ông nói gì về người tù trên bục kia. Quản lí dường như hơi bối rối với điều này, và Quan tòa giải thích: “Đó là một câu hỏi chính thống. Tôi chuẩn bị kết nó”.

Ủy viên công tố sau đó hỏi, quản lí có bất cứ câu hỏi nào đặt ra không, và ông trả lời lớn: “Chắc chắn không! Tôi đã nói tất cả những gì tôi muốn”. Âm lượng của ông và ánh nhìn đắc thắng trên gương mặt ông, lúc ông liếc nhìn tôi, đánh dấu rõ rằng, tôi có cảm nhận như tôi chưa hề cảm nhận nhiều năm qua. Tôi có một đam mê ngốc nghếch là bật khóc nức nở. Đây là lần đầu tiên tôi đã nhận ra tất cả những con người này đã căm thù tôi thế nào.

Sau khi hỏi bồi thẩm đoàn và luật sư của tôi xem họ có bất cứ câu hỏi nào, Quan tòa nghe nhân chứng của bảo vệ. Bước chân lên bục bảo vệ ném một cái nhìn về phía tôi, sau đó quay đi. Trả lời những câu hỏi ông nói, tôi đã từ chối nhìn xác Mẹ, tôi đã hút thuốc lá và ngủ, và uống café au lait. Sau đó, tôi cảm giác kiểu như một làn sóng giận dữ – ngạc nhiên lan rộng khắp phòng xử, và cho lần đầu tiên tôi hiểu rằng tôi phạm tội. Họ yêu cầu bảo vệ nhắc lại những gì ông nói về cà phê và về việc tôi hút thuốc.

Ủy viên công tố quay về tôi lần nữa, với một cái nhìn chiến thắng trong mắt ông. Luật sư bào chữa của tôi hỏi bảo vệ, ông cũng đã không hút thuốc. Nhưng Ủy viên công tố phản đối mạnh mẽ điều này. “Tôi muốn biết”, công tố gạo lên giận dữ, “ai đang điều hành trong phiên tòa này?”. Hoặc liệu bạn bè tôi có nghĩ một nhân chứng đã phán xét không công bằng cho phần luận tội anh ta sẽ đảo lộn bằng cớ, những bằng chứng đầy đủ và xác thực, chống lại khách hàng của anh ta?”. Không thể tồi hơn, Quan tòa yêu cầu bảo vệ trả lời câu hỏi.

Anh bạn già động đậy đôi chút. Sau đó, “Ồ, tôi biết tôi đã không phải hoàn thành nó”, bảo vệ ậm ừ, “nhưng tôi đã đi lấy một điếu thuốc từ quí ông trẻ khi cậu mời tôi – chỉ là phép lịch sự”.

Quan tòa tiếp đó hỏi tôi có bình luận gì không. “Không gì cả”, tôi nói, “trừ bằng chứng hoàn toàn đúng. Sự thật là tôi đã mời ông một điếu thuốc lá”.

Bảo vệ nhìn tôi ngạc nhiên và kiểu như thán phục. Sau đấy, sau khi e hèm một chút, ông tự nguyện xác nhận ông là người khuyên tôi nên uống chút cà phê.

Luật sư của tôi vui sướng: “Bồi thẩm đoàn sẽ đánh giá cao”, gã nói, “nhân tố quan trọng trong nhiệm vụ này”.

Ủy viên Công tố tuy nhiên đã giậm chân ông lần nữa. “Hoàn toàn vậy”, ông nói to trên đầu chúng tôi. “Bồi thẩm đoàn sẽ đánh giá cao nó. Và họ sẽ đưa ra kết luận, cho dù bên thứ ba có mời nhiệt tình một tách cà phê, thì tù nhân, với phép lịch sự tối thiểu, nên phải từ chối nó, nếu chỉ là kính trọng xác chết của người đàn bà khốn khổ đã mang cậu ta đến với thế giới này”.

Sau đó bảo vệ trở lại chỗ ngồi của ông.

Khi Thomas Pérez được gọi lên, một nhân viên của tòa đã giúp ông bước lên bục. Pérez khẳng định, mặc dù ông là một người bạn lớn của mẹ tôi, ông đã gặp tôi duy nhất một lần, đúng vào cái ngày đám tang. Được hỏi tôi đã ứng xử thế nào vào ngày đó, ông đáp:

“Ồ, tôi thật buồn khổ nhất, mọi người biết đấy. Quá đau buồn để có thể nhận biết mọi thứ. Nỗi thống khổ của tôi đã làm mờ mắt tôi, tôi nghĩ vậy. Đó là một cú sốc lớn, cái chết người bạn yêu thương của tôi; thực tế tôi đã ngất đi trong đám tang. Bởi vậy tôi thật khó nhận ra quí cậu trẻ này được”.

Ủy viên Công tố yêu cầu ông kể cho Tòa ông có nhìn thấy tôi khóc sụt sùi. Và khi Pérez trả lời: “Không”, còn nhấn mạnh thêm: “Tôi tin Bồi thẩm đoàn sẽ ghi chú câu trả lời này”.

Luật sư của tôi đứng lên ngay lập tức, và  hỏi Pérez với giọng mà tôi nghĩ không cần phải gây hấn vậy.

“Nào, nghĩ kĩ đi, ông lão của tôi! Ông có thể thề rằng ông đã nhìn thấy thân chủ của tôi không rỏ một giọt nước mắt?”.

Pérez trả lời: “không hề khóc”.

Lúc này một vài người cười gằn, và luật sư của tôi xắn lại tay áo choàng, nói rành rọt:

“Đây là điển hình của cách trường hợp này gọi là đạo đức. Không sự cố gắng nào được đặt ra để loại bỏ những thực tế của sự thật”.

Ủy viên Công tố bỏ qua khẳng định này, ông đã vạch đi vạch lại bút chì của ông lên vỏ ngoài chiếc va li của ông, dường như hoàn toàn không khác nhau.

Tòa nghỉ 5 phút, trong lúc đó luật sư của tôi nói với tôi mọi việc giải quyết đang thực sự tốt đẹp. Sau đó Céleste được gọi đến. Anh là một nhân chứng cho bên bào chữa. Bào chữa có ý nghĩa đối với tôi.

Thỉnh thoảng Céleste ném cho tôi một ánh nhìn; anh đang vò chiếc mũ phớt bằng hay tay lúc anh làm nhân chứng. Anh mặc bộ comple đẹp nhất của anh, bộ anh mặc nhân thỉnh thoảng một Ngày Chủ nhật anh đi cùng tôi đi đến cuộc đua. Nhưng bằng cớ, anh đã không dựng cổ áo lên; phía trên cùng chiếc áo sơ mi của anh, tôi nhận ra, chỉ được thắt bằng chiếc cúc kim loại. Được hỏi có phải tôi là một trong những khách hàng của anh, anh đó, “đúng và một người bạn nữa”. Được hỏi anh cho ý kiến về tôi, anh nói tôi “tốt, và khi được hỏi giải thích anh nói vậy nghĩa gì, anh đáp lại ai ai cũng biết đó có nghĩa gì. “Tôi là một người đàn ông bí mật?”. “Không”, anh đáp, “Tôi không nên gọi cậu ấy vậy. Nhưng cậu ấy không phải là người phí hoài hơi thở của mình, giống như nhịp điệu”.

Ủy viên công tố hỏi anh tôi có nợ ròng hóa đơn hàng tháng tại nhà hàng của anh ấy lúc anh trình ra không. Céleste cười to, “Ồ, cậu ấy trả ngay  tắp lự, đúng vậy. Còn những hóa đơn chỉ là những chi tiết-hóa, giữa cậu ấy và tôi”. Sau đó anh được hỏi nói về việc anh nghĩ gì về việc phạm tội. Anh đặt hai tay mình lên thanh ngang của bục và mọi người có thể nhìn thấy anh đã sẵn sàng cho bài phát biểu.

“Trong suy nghĩ của tôi đó chỉ là một tai nạn, một sự kém may mắn, nếu như các ông muốn dùng từ khác. Và một thứ giống như bạn đã mất kiểm soát của mình”.

Anh ấy muốn tiếp tục nói, nhưng Quan tòa đã cắt ngang. “Hoàn toàn được rồi. Tốt rồi, cảm ơn anh”.

Chừng một giây Céleste lặng đi, sau đó anh giải thích là anh chưa kết thúc hết những gì anh muốn nói. Họ bảo anh tiếp tục, nhưng nói ngắn gọn.

Anh chỉ nhắc lại đó là “chỉ đơn thuần tai nạn”.

“Đó là có lẽ phải vậy”, Quan tòa quan sát, “Nhưng những gì chúng ta ở đây là cố gắng cho những tai nạn kiểu thế, tuân theo luật pháp. Cậu có thể bước xuống”.

Céleste quay và nhìn tôi. Mắt anh ươn ướt và môi anh rung rung. Đó là chính xác nếu anh muốn nói: “Ồ, tôi đã làm những điều tốt nhất cho cậu, cậu bé già. Tôi sợ đã không giúp được gì nhiều. Tôi xin lỗi”.

Tôi đã không nói gì, hay có phản ứng gì, nhưng đây là lần đầu tiên trong đời tôi, tôi muốn hôn một người đàn ông.

Quan tòa nhắc lại yêu cầu anh bước xuống, và Céleste trở lại chỗ ngồi giữa đám đông. Trong suốt phần còn lại để nghe anh vẫn ở đó, hơi ngả về phía trước, cùi trỏ đặt trên đầu gối và chiếc mũ phớt trong hai tay anh, không bỏ sót một lời nào trong tiến trình phiên tòa.

Tiếp theo đến lượt Marie. Nàng đội mũ và trông vẫn hoàn toàn xinh đẹp, mặc dù tôi thích nàng để tóc buông hơn. Từ đây tôi có thoáng nhìn thấy bờ ngực mềm của nàng, và môi dưới của nàng bĩu nhẹ luôn luôn mê hoặc tôi. Nàng xuất hiện trông rất lo lắng.

Câu hỏi đầu tiên là: Nàng biết tôi bao lâu rồi? Kể từ thời gian khi nàng ở trong văn phòng của chúng tôi, nàng đáp. Sau đó Quan tòa hỏi nàng mối quan hệ của chúng tôi là thế nào, và nàng nói là là bạn gái của tôi. Trả lời câu hỏi khác, nàng thú nhận hứa hẹn sẽ cưới tôi. Ủy viên Công tố, người đã đang nghiên cứu một tài liệu trước mặt ông, hỏi nàng khá sắc khi nào thì “gian díu” của chúng tôi bắt đầu. Nàng đưa ra ngày. Ông sau đó quan sát bằng không khí có-thể chính xác nàng nói ngày hôm sau đám tang mẹ tôi. Sau khi đưa ra thông tin bẫy này ông khẳng định bằng một tông giọng đanh thép nhẹ là hiển nhiên đây là một “chủ đề tế nhỉ” và ông có thể bước vào một cảm xúc của một quí cô trẻ, nhưng – lúc này giọng của ông càng ngày càng rít hơn – nhiệm vụ của ông có trách nhiệm của ông giảm nhẹ những suy xét của sự thanh tao này.

Sau tuyên bố đó ông hỏi Marie nói thông tin đầy đủ chúng tôi làm gì hôm đó lúc tôi “giao cấu” với nàng lần đầu tiên. Marie đầu tiên đã không trả lời, nhưng Công tố yêu cầu, và sau đó nàng nói với ông chúng tôi gặp nhau khi đi tắm, đi xem phim cùng nhau và sau đó tới chỗ tôi ở. Ông sau đấy khẳng định trước phiên tòa, đó là những kết luận chắc chắn của chính Marie tại những tiến trình trước khi điều tra, ông đã nghiên cứu chương trình phim ngày hôm đó, và quay về phía Marie hỏi nàng tên của bộ phim chúng tôi đã xem. Trong một giọng nói thấp nàng đáp đó là phim có Fernandel đóng. Cùng thời gian nàng kết thúc, phòng xử lặng phắc như thể bạn có thể nghe được tiếng kim rơi.

Trông có vẻ đau khổ, Ủy viên Công tố đã đứng thẳng người dậy và chỉ thẳng vào tôi, nói trong một tông giọng như thể tôi đã cam kết là ông chuyển động mạnh mẽ:

“Kính thư quí ông trong Bồi thẩm đoàn, tôi phải khẳng định với các ngài ngay sau ngày đám tang mẹ, người đàn ông này đã đến bể bơi, bắt đầu cặp kè với một cô gái, và đi xem phim hài. Đó là tất cả những gì tôi muốn nói”.

Khi ông ngồi xuống khoảng lặng chết chóc giống hệt đã diễn ra. Sau tất cả Marie đột nhiên bật khóc. Ông đã nắm mọi thứ sai rồi, nàng nói; đó không chút nào giống và thực sự như vậy cả, ông đã uy hiếp nàng hiểu ngược lại những gì nàng muốn nói. Nàng biết tôi rất rõ, và nàng chắc chắn tôi đã không làm bất cứ điều gì sai – và vậy đấy. Một tín hiệu từ chủ tọa phiên tòa, một trong những nhân viên của phiên tòa đã dẫn nàng đi, và tiếp tục nghe phần còn lại.

Hiếm có ai dường như nghe được Masson nói, nhân chứng tiếp theo. Anh ấy khẳng định tôi là một người bạn trẻ đáng kính trọng; “và, gì nữa nhỉ, một gã thật thà”. Không một ai chú ý tới Salamano, khi ông nói với họ tôi luôn luôn tử tế thế nào đối với con chó của ông, hoặc khi, trong việc trả lời một câu hỏi về mẹ tôi và bản thân tôi, ông nói Mẹ và tôi có rất ít điểm chung và giải thích tại sao tôi quyết định để bà đến Viện Dưỡng lão. “Mọi người phải hiểu”, ông nói thêm, “Mọi người phải hiểu”. Nhưng không một ai dường như hiểu cả. Ông được yêu cầu bước xuống.

Raymond là người tiếp theo, và nhân chứng cuối cùng. Anh ta đưa tay vẫy nhẹ tôi và nói tôi rất ngây thơ. Quan tòa phản đối anh ta.

“Cậu đến đây để làm nhân chứng, không phải là nêu quan điểm của  cậu ở phiên tòa, và cậu phải khẳng định bản thân mình để trả những câu hỏi tôi đưa ra cho cậu”.

Sau đó anh ta được hỏi làm rõ mối quan hệ của anh ta với người đã mất, và Raymond có cơ hội giải thích đó là anh ta, không phải tôi, chống lại người đàn ông đã chết bởi một mối căm thù, bởi vì anh ta, Raymond, đã đánh đập em gái của người đàn ông đó. Quan tòa hỏi anh ta người chết không có lí do gì để ghét tôi cả. Raymond nói với quan tòa việc sáng hôm đó tôi có mặt trên bãi biển là một sự trùng khớp thuần khiết.

“Việc sau đó đã xảy đến thế nào”, Công tố hỏi, “có phải bức thư đã dẫn tới thảm họa mà tù nhân gây ra?”.

Raymond đáp lại điều này, đơn thuần cũng chỉ là một sự tình cờ.

Với điều này Công bố lập tức biện hộ trong trường hợp này thì là “sự tình cờ” hay là “sự trùng khớp” dường như đóng một phần to lớn đáng kể. Đó có phải là sự tình cờ tôi đã không can thiệp khi Raymond đánh đấm tình nhân? Thuật ngữ “sự tình cờ” là hoàn toàn thích hợp khi tôi sử dụng để cam đoan cho Raymond tại sở cảnh sát và đã làm thế, đúng dịp ấy, những lời tuyên bố có ưu ái quá đáng đối với anh ta không? Để kết luận Công tố hỏi Raymond cho biết phương tiện sinh nhai của anh ta là gì.

Bản thân anh ta mô tả mình là một người giữ kho, Công tố thông tin cho bồi thẩm đoàn đó là kiến thức chung chứng tỏ rằng nhân chứng sống dựa vào kiếm chác từ những người phụ nữ. Tôi, ông ta nói, là người cộng tác và bạn thân thiết với người đàn ông này; trong thực tế, toàn bộ nền tảng của vụ phạm tội là những mô tả sa đọa nhất về đạo đức. Và thậm chí còn đáng ghê tởm hơn với cá nhân là một người tù, một con quỉ toàn bộ không có tính người thiếu cả tinh thần đạo đức.

Raymond nhẹ nhàng phản ứng lại, và luật sư của tôi cũng phản đối. Họ được thông báo rằng Công bố phải kết thúc phần biện hộ của ông.

“Tôi mới gần kết thúc thôi”, ông ta đáp; sau đó quay về phía Raymond. “Tù nhân có phải là bạn của anh?”.

“Chắc chắn rồi. Chúng tôi là những người bạn tốt nhất, như mọi người nói”.

Công tố cũng đặt câu hỏi tương tự đối với tôi. Tôi nhìn vào Raymond chằm chằm, và anh ta đã không quay lại.

Rồi, “vâng”, tôi đáp.

Công tố quay về phía bồi thẩm đoàn.

“Không chỉ người đàn ông đang đứng trên bục trước mặt các ông đây, đam mê hầu hết những cuộc truy hoan rượu chè đáng xấu hổ nhất ngay ngày hôm sau đám tang của mẹ cậu ta. Cậu ta giết một người đàn ông ngay chớp mắt, với một đeo đuổi báo thù nhơ nhớp trong thế giới ngầm của đĩ điếm và chủ chứa. Đó, những quí ông của bồi thẩm đoàn, là kiểu người của tù nhân đấy”.

Ngay sau khi ông ngồi xuống, luật sư của tôi, không còn đủ kiên nhẫn, đã giơ tay thật cao khiến cho ống tay áo rơi cả về phía sau, lộ rõ hết cả cổ tay áo sơ mi hồ cứng của gã.

“Đây là thân chủ của tôi trong phiên tòa luận tội,  về việc chôn mẹ cậu ta, hay giết người?”, gã hỏi.

Vài tiếng xì xào trong phiên tòa. Nhưng sau đấy Công bố đã giậm chân, và quấn chiếc áo tòa quanh mình, nói rằng ông ta thật ngạc nhiên về sự ngây thơ của người bạn đã không nhìn thấy sự khác biệt giữa hai nhân tố của vụ án, có một đường kết nối sống còn ở đây”. Tâm lí họ giao du cùng nhau, nếu nhưng anh ta có thể cũng làm vậy. “Tóm lại”, ông kết luận, nói với giọng rất hùng hồn, “tôi buộc tội bị cáo có hành vi trong đám tang của mẹ cậu ta cách đó đã chứng tỏ cậu ta sinh ra đã là một kẻ phạm tội”.

Những lời này dường như ảnh hưởng quá mạnh tới bồi thẩm đoàn và công chúng. Luật sư của tôi chỉ rùng mình và lau mồ hôi trên trán gã. Nhưng hiển nhiên là gã không hề cuống, và tôi có một cảm nhận mọi thứ đã không còn tốt đối với tôi.

Ngay sau chứng cứ này phiên tòa tạm nghỉ. Lúc tôi được dẫn tới tòa án từ xe bán tải của nhà tù, tôi tỉnh táo trong nhiều khoảnh khắc cốt lõi với cảm nhận giống nhau về một tối mùa hè đang-ở-ngoài-cửa. Và, ngồi trong bóng tối của buồng giam di động của mình, tôi nhận ra, vang vọng trong trí não mệt mỏi của tôi, tất cả những tiếng động tính cách của một thị trấn tôi từng yêu, và của một giờ chắc chắn trong ngày tôi đã luôn luôn tận hưởng một cách khác biệt. Những tiếng hét rao của các cậu bé bán báo trong không gian sẵn uể oải rồi, những tiếng gọi cuối cùng của lũ chim trong khu vườn công cộng, và tiếng khóc chào mời của người bán bánh mì kẹp rong, tiếng chói tai của xe đò trên góc phố hẹp ở thị trấn trên cao, và tiếng sột soạt mờ nhạt trên đầu như bóng đêm buông xuống xa phía cảng biển – tất cả những tiếng động này khiến tôi trở lại nhà tù giống như một chuyến du hành của một người mù đang trong cuộc hành trình mà mỗi bước chân anh ta đều rõ từ trái tim mình.

Vâng, đây là giờ khắc đêm lúc này – dường như đã trôi qua được bao lâu từ lúc trước! – Tôi luôn luôn cảm nhận từng nội dung trác tuyệt của cuộc đời. Sau đó, điều chờ tôi là một đêm ngủ dễ dàng, không giấc mơ. Lúc này là giờ khắc giống hệt, nhưng là một sự khác biệt rồi; Tôi đang trở lại buồng giam, và điều đợi tôi là một đêm ám ảnh bởi những điềm không lành cho ngày sắp tới. Và bởi tôi đã học được rằng những con đường giống nhau tạo vết trong những đêm hè bụi bặm có lẽ sẽ dẫn tới những nhà tù với những giấc ngủ không còn ngây thơ và gặp chút vấn đề.

(Hết chương III, phần II)

Còn tiếp

(*) Thực sự là tôi ngộp thở khi đọc Albert Camus. Chắc hẳn với Gilbert Stuart hẳn cũng vậy. Nếu mà được đọc từ nguyên bản tiếng Pháp chắc còn tuyệt vời nữa. Nhưng tôi cũng tạm hài lòng với điều này đã, khi được tiếp xúc và hiểu được Camus. Vốn là một phóng viên, cũng thích vo ve chuyện thế sự, dù không vinh hạnh được một lần tới tòa và dự một phiên tòa, nhưng xem trên trực tuyến truyền hình thì cũng có, nhưng tôi thấy Camus cảm nhận về phóng viên cực rõ. Vẫn những tay thích tọc mạch, vẫn yêu những chuyện chân tơ kẽ tóc và giật gân. Ở góc độ một tù nhân, cái nhìn của Mersault cứ như một lăng kính phản chiếu. Một bên là ồn ào, một góc là lặng lẽ. Một bên là tìm sao cho ra những chuyện vớ vẩn để câu khách, một bên chỉ có mong muốn là phiên tòa xử đúng, xử đủ. Nhưng hầu như cái phần nổi nhỏ bé đã chiếm lĩnh cái tảng băng chìm đáng kính trọng kia rồi. Cái tình yêu lặng lẽ của Marie. Cái tình bạn chân chính nhưng đã bị khuất lấp, trong khi cái tình bạn giả hiệu lại trở thành đòn búa tạ giáng xuống chàng trai trẻ Mersault.

Người lạ (tiếp theo 18)

19092776

Albert Camus ở Saint -Honorat năm 1945. Nguồn ảnh: Goodread

NGƯỜI LẠ

Albert Camus

Dựa theo bản dịch tiếng Anh từ tiếng Pháp của Stuart Gilbert (N.H.T chuyển ngữ/Phần 2/Tiếp)

>> Phần trước

Phần II

II

CÓ một vài điều tôi chưa từng quan tâm nói ra. Và, một vài ngày sau khi tôi bị đưa tới nhà tù, tôi quyết định giai đoạn này là một trong những điều đó. Tuy nhiên, khi thời gian qua đi, tôi chợt cảm thấy điều không thích này không có căn bản thực sự. Trong quan điểm thực tế, trong những ngày mới này, tôi thật khó tỉnh táo ở trong tù; tôi luôn luôn có một hi vọng mơ hồ rằng mọi thứ sẽ đảo ngược, vài điều ngạc nhiên có thể chấp nhận.

Thay đổi đến sớm khi lần đầu tiên Marie đến  thăm và chỉ một lần đó. Từ cái tôi nhận được thư nàng cho hay họ không để nàng tới và thăm tôi nữa, bởi vì nàng không phải là vợ tôi – từ ngày đó tôi nhận ra buồng giam này là mái ấm cuối cùng của tôi, một cái kết của cái chết, nói vậy nhỉ.

Vào ngày tôi bị bắt họ để tôi trong một căn phòng to nhất với một vài tù nhân khác, hầu hết là người A rập. Họ rên rỉ khi họ nhìn thấy tôi bước vào, và hỏi tôi đã phạm tội gì. Tôi kể với họ tôi đã khử một tên A rập, họ lặng đờ một lúc. Nhưng đêm bắt đầu xuống lúc này, và một trong số họ giải thích cho tôi cách rải chiếu ngủ của tôi thế nào. Bằng cuộn mép này với mép kia kiểu như bọc kín hỗ trợ. Cả đêm tôi cảm giác những con bọ bò khắp mặt tôi.

Vài ngày sau tôi tự nhốt mình trong buồng giam, nơi tôi ngủ trên một chiếc giường tầng bắt vít vào tường. Những đồ đạc duy nhất khác là một cái xí xổm và một bồn rửa tay bằng thiếc. Tù nhân đứng chụm cả vào chỗ đất có ánh nắng mặt trời, và qua cửa sổ nhỏ bé của tôi, tôi có thể nghé ra biển. Một ngày khi tôi đang treo mình trên xà, đắm mắt về phía ánh sáng mặt trời đang đùa trên những ngọn sóng, một cai tù bước vào và bảo tôi có khách thăm. Tôi đã nghĩ đó chắc hẳn là Marie, và quả đúng vậy.

Bước tới Phòng thăm thân, tôi phải đi qua một hành lang dài, sau đó đi lên những bậc cao thang như lên một chuyến bay, rồi lại dọc hành lang khác. Đó là một căn phòng rất rộng, chiếu sáng bằng một chiếc cửa sổ vòm to, và chia thành ba khu vực bằng những tấm ngăn thép dựng đứng. Giữa hai tấm thép có một cái lỗ chừng 30 feet, một kiểu khoảnh đất trống giữa các tù nhân và người thân. Tôi được dẫn tới một nơi đối diện thẳng Marie, nàng đang mặc một chiếc váy kẻ sọc. Dọc bên tôi là 12 tù nhân khác, đa số là người A rập. Bên Marie hầu hết là những phụ nữ người Moor. Nàng kẹp giữa một phụ nữ già nhỏ bé có đôi môi mím chặt và một y tá trường học phốp pháp, không đội mũ, đang nói liên mồm rất to và tay vung liên hồi. Bởi có khoảng cách giữa khách thăm và tù nhân, tôi thấy, tôi cũng phải nói với giọng thật to.

Khi tôi bước vào phòng, tiếng lặp của giọng nói vọng lại từ những bức tường trống, và ánh nắng tràn vào trong, phủ lên mọi thứ bằng tia trắng toát, khiến tôi cảm thấy hoàn toàn mơ màng. Sau khi buồng giam của tôi vừa lặng yên vừa tối tăm thì ánh sáng đã khiến tôi cần một lúc mới quen được. Sau một chút, tuy nhiên, tôi đến và mặt đối mặt rõ ràng, mọi thứ sáng sủa như điểm sáng tập trung cả vào đó.

Tôi nhận thấy một cai quản nhà tù ngồi phía cuối khoảng giữa chỗ trống giữa những tấm ngăn. Các tù nhân địa phương và người thân của họ ngồi ở mỗi bên và đang nói chuyện đối diện với nhau. Họ đã không cất cao giọng, và mặc dầu tiếng động ồn ĩ, hầu hết chuyển thành những tiếng thì thầm. Rầm rì cả những giọng nói này, nói bé tạo thành một kiểu kết hợp với những cuộc nói chuyện lơ lửng trên đầu họ. Tôi bỏ qua mọi thứ rất nhanh và bước một bước dài tới chỗ Marie. Nàng đang ấn gương mặt rám-nắng màu nâu của nàng vào những thanh song và mỉm cười một cách khó khăn nhất nàng có thể. Tôi nghĩ nàng trông rất xinh đẹp, nhưng làm cách nào tôi có thể là chính tôi để nói chuyện với nàng vậy.

“Ồ”, nàng hỏi, cất giọng của nàng rất cao. “Cái gì đây? Anh khỏe chứ, có đủ những thứ anh cần chứ?”.

“Ừ, có. Anh có mọi thứ anh cần”.

Chúng tôi im lặng trong một lúc; Marie tiếp tục mỉm cười. Người phụ nữ phốp pháp đang oang oang với tù nhân bên cạnh tôi, có thể đoán là chồng bà, một người đàn ông khá ưa nhìn, trung tuổi, cao.

“Jeanne từ chối đón nhận thằng bé”, bà rên rỉ.

“Vậy thì tồi tệ quá”, người đàn ông đáp lại.

“Vâng, và tôi đã nói với con bé nên đón thằng bé trở lại lúc này khi anh ra tù; nhưng con bé đã không chịu nghe lời”.

Marie gào lên qua lỗ hổng, rằng Raymond đã gửi lời hỏi thăm tới tôi, và tôi nói, “Cảm ơn nhiều”. Nhưng giọng của tôi bị chìm đi bởi người ngồi bên cạnh, hỏi “thế thằng bé có hoàn toàn khỏe mạnh không”.

Bà phốp pháp cười to. “Khỏe mạnh ư? Tôi nên nói nó thế nào nhỉ! Bức tranh của khỏe mạnh”.

Trong khi tù nhân bên trái tôi, một thanh niên có bàn tay phụ nữ, gày gò, chưa từng nói một câu nào. Mắt của gã, đã chằm chằm vào phụ nữ già bé nhỏ đối diện gã, và bà ta đáp trả lại ánh nhìn của gã với một kiểu khát khao đam mê. Nhưng tôi phải dừng không ngắm họ lúc Marie đang gào lên với tôi, chúng ta không được phép từ bỏ hi vọng.

“Chắc chắn là không”, tôi trả lời. Cái nhìn của tôi rơi xuống hai vai nàng, và tôi có một ham muốn đột ngột là bóp chặt chúng, qua chiếc váy mỏng. Lụa dệt của chiếc váy khiến tôi đam mê, và tôi có một cảm giác là hi vọng nàng sẽ tập trung nói về nó, cách nào đó. Tôi tưởng tượng như cách đã có trong tâm trí của Marie, để nàng tiếp tục mỉm cười, nhìn thẳng vào tôi.

“Mọi thứ sẽ bình thường thôi, anh sẽ thấy, và chúng ta sẽ cưới nhau”.

Tất thảy tôi nhìn thấy nàng lúc này là ánh trắng của răng nàng, và những vết nhăn nhỏ quanh mắt nàng. Tôi trả lời: “Em thực sự nghĩ vậy ư?” nhưng cơ bản là bởi vì tôi cảm giác khó với tôi để trả lời gì đó.

Nàng bắt đầu nói rất nhanh trong giọng nói vút-cao đều đều.

“Vâng, anh sẽ được tha bổng, và chúng ta sẽ lại đi tắm cùng nhau, những ngày Chủ nhật”.

Bà bên cạnh tôi vẫn còn la hét, kể với chồng bà việc bà đã để lại một cái giỏ đồ cho chồng ở trong văn phòng nhà tù. Bà đưa ra một danh sách các thứ bà đã mang tới và kể với ông để nhớ và kiểm tra chúng cẩn thận, vì một vài thứ khá là có giá trị. Thanh niên trẻ bên cạnh tôi và mẹ của cậu vẫn nhìn nhau đầy buồn thương, và tiếng rì rầm của ngôn ngữ A rập đã chìm đi dưới họ. Ánh sáng bên ngoài dường như ngày một tăng lên phía cửa sổ, ập qua, và nhòe lên trên các gương mặt của mọi người như được khoác lên một chiếc áo khoác lớp dầu màu vàng.

Tôi bắt đầu cảm thấy choáng nhẹ, và tôi ước gì tôi có thể rời khỏi. Giọng nói phiền hà cạnh tôi đang kèn kẹt bên tai tôi. Nhưng, mặt khác, tôi muốn có được tất cả những sự ủng hộ của Marie. Tôi không có nhận thức được thời gian đã qua bao lâu. Tôi nhớ Marie mô tả cho tôi công việc của nàng, với nụ cười luôn nở trên gương mặt nàng. Không thấy tiếng động ngừng lúc nào – tiếng gào, chuyện trò, và luôn luôn là tiếng thì thầm to nhỏ. Duy nhất ốc đảo lặng yên được chàng trai trẻ và người phụ nữ già tạo ra khi họ chỉ nhìn vào mắt nhau.

Sau đó, từng người một, những người A rập được dẫn đi; hầu hết mọi người đều lặng im khi chỉ còn người đầu tiên ở lại. Phụ nữ già bé nhỏ ấn người bà vào những thanh sắt cùng với khoảnh khắc cai ngục chạm vào vai con trai bà. Gã nói, “Au revoir, Mẹ”, và, trượt khỏi tay bà qua những thanh sắt, bà chào con trai bằng vẫy tay khoảng bé, chậm rãi.

Không sau đó bà đi cùng một người đàn ông, mũ cầm trong tay, thay thế chỗ của bà. Một tù nhận được dẫn ra chỗ khoảng trống bên cạnh tôi, và cả hai bắt đầu trao đổi mau lẹ – không to tiếng, tuy nhiên, như căn phòng trở nên tương đối im lặng. Ai đó vừa tới và gọi người đàn ông bên phải tôi đi, và vợ của anh quát anh – chị đã dường như không nhận ra không còn cần thiết để quát to nữa – “Này, anh nhớ chăm sóc bản thân, anh yêu, và đừng làm gì liều lĩnh!”.

Tiếp theo đến lượt tôi phải đi. Marie hôn gió tôi. Tôi nhìn ngược lại lúc tôi bước đi. Nàng đã không cử động; gương mặt nàng vẫn còn dính vào những thanh song, môi nàng vẫn còn mím lại, đọng một nụ cười.

Ngay sau việc này tôi nhận được thư nàng. Và sau đó mọi điều tôi chưa thích nói đã bắt đầu. Không bởi vì chúng khủng khiếp đáng kể; tôi đã không hoang phí lời hứa và tôi chịu tổn thương kém hơn những người khác. Song, vẫn còn một thứ trong những ngày đầu này mà thực sự tẻ nhạt: thói quen nghĩ của tôi giống như một người đàn ông tự do. Ví như tôi đột nhiên tóm được một ham mê muốn xuống biển để bơi.  Và đơn thuần là tưởng tượng tiếng động nhóp nhép dưới chân tôi, cảm giác mượt mà của nước trên cơ thể tôi khi tôi thả lỏng, và tinh thần tuyệt vời của niềm tin mang tôi về nhà hơn là sự chật hẹp của buồng giam tàn bạo lúc này.

Song, tâm trạng đó kéo dài chỉ được vài tháng. Sau đó, tôi có những ý nghĩ của kẻ tội tù. Tôi chờ đợi được đi dạo ở dưới sân hoặc luật sư tới gặp. Còn lại hầu hết thời gian, tôi cố gắng để hoàn toàn khỏe mạnh, thật đấy. Tôi đã thường xuyên nghĩ rằng tôi đang bị bắt ép phải sống trong một hốc cây khô, không có gì để làm ngoài nghểnh cổ lên ngắm giời phía trên, tôi đã quen với việc đó theo nhiều mức độ. Tôi đã học được cách nhìn những con chim bay qua hoặc những đám mây nổi lững lờ, lúc tôi phải đến để theo dõi chiếc cà vạt bướm kì quặc luật sư của tôi đeo, hoặc, ở một thế giới khác, chờ đợi kiên nhẫn đến Ngày chủ nhật để được mê mải lúc làm tình với Marie. Ồ, ở đây, dầu sao, tôi đã không bị nhốt vào khúc cây rỗng. Có những điều khác trong thế giới tồi tệ hơn. Tôi nhớ đó là một trong những ý tưởng thú nuôi của Mẹ tôi – bà đã luôn luôn nói về nó – rằng trong thời gian dài một thứ sẽ quen với mọi thứ.

Thường xuyên, tuy nhiên, tôi đã không nghĩ mọi thứ xa đến vậy. Những tháng đầu tiên này là đang cố gắng, tất nhiên; nhưng cố gắng rất nhiều tôi phải tạo ra sự giúp đỡ tôi từ họ. Ví dụ, tôi mơ hồ bởi đam mê dành cho một người đàn bà – điều này đủ tự nhiên, nhất là lứa tuổi tôi. Tôi chưa từng nghĩ Marie đặc biệt. Tôi ám ảnh bởi những ý nghĩ của người phụ nữ này, hoặc kia, của tất cả những ai mà tôi có, tất thảy hoàn cảnh nào tôi cũng yêu họ; nhiều đến mức buồng giam trở nên đông cứng với những gương mặt, bóng ma của những đam mê già cỗi của tôi. Điều đó bất an tôi, không nghi ngờ gì hết; nhưng, ít ra, nó có thể giết thời gian.

Tôi dần dần trở nên hoàn toàn thân thiện với cai tù chính, người đi loanh quanh trong nhà bếp phụ giúp lúc giờ ăn. Đó là người đàn ông mang đến chủ đề cho mọi phụ nữ. “Đó là những gì nhiều đàn ông ở đây phàn nàn nhiều nhất”, cai tù nói với tôi.

Tôi đáp bản thân tôi cũng thấy giống thế. “Có điều gì không được bình đẳng lắm”, tôi nói thêm, “giống như bồi thêm một cú khi gã đã ngã xuống rồi”.

“Những đó là toàn bộ quan điểm của nó”, cai tù nói; “đó là tại sao cậu những gã bạn đang bị giữ trong tù”.

“Tôi không hiểu”.

“Tự do”, cai tù đáp, “nghĩa là. Cậu đang bị cướp đoạt mất tự do của cậu”.

Trước đây tôi chưa từng thấy mình sáng rõ, nhưng tôi hiểu quan điểm của cai tù. “Đúng vậy”, tôi đáp. “Hoặc ngược lại đây không phải là sự trừng phạt”.

Cai tù gật đầu. “Đúng, cậu khác biệt, cậu có thể dùng bộ não của cậu. Những người khác thì không. Song, những gã đó tìm cách thoát; họ tự thân làm điều ấy”. Với kết luận như vậy cai tù rời khỏi buồng giam của tôi. Ngày tiếp theo tôi đã làm giống như những người khác.

Thiếu thuốc lá cũng là một thử thách. Khi tôi được đưa tới nhà tù, họ tháo dây lưng, dây giày, và toàn bộ các thứ trong túi tôi, gồm cả những điếu thuốc của tôi. Khi tôi được đưa đến buồng giam tôi đã hỏi xin phép được lấy lại, dầu sao, thuốc lá. Hút thuốc bị cấm họ cảnh báo tôi. Đó bởi vì sẽ khiến tôi xuống sức nhiều nhất; thực tế, tôi thực sự đau đớn trong vài ngày đầu tiên. Tôi thậm chí xé nhỏ những sợi chiếu và ngậm chúng. Cả ngày dài tôi cảm thấy ngất ngây và cáu bẳn. Tôi hiểu rằng tại sao tôi không nên được phép thậm chí là hút thuốc; có thể chẳng một ai bị hại gì. Sau đó, tôi hiểu ý tưởng phía đằng sau nó; điều cá nhân này, cũng, là một phần trong những trừng phạt của tôi. Nhưng, cùng lúc tôi hiểu, tôi đã dứt cơn thèm, bởi thế mọi trừng phạt cũng ngừng lại.

Trừ những điều cá nhân như thế này, tôi cũng không được vui vẻ. Lần nữa, toàn bộ vấn đề là: Làm sao để giết thời gian. Sau một lúc, tuy nhiên, khi tôi học được mẹo nhớ mọi thứ, tôi chưa lúc nào có một khoảnh khắc buồn tẻ nữa. Thỉnh thoảng tôi tập thể dục cho trí nhớ của mình trong phòng ngủ của tôi và, bắt đầu từ một góc, vẽ một vòng tròn, định vị mỗi vật thể tôi nhìn thấy trên đường. Đầu tiên chỉ mất chừng một hoặc hai phút. Nhưng mỗi thời gian tôi nhắc lại kinh nghiệm, cần thêm thời gian dài hơn một chút. Tôi đánh dấu hình ảnh mỗi mẩu đồ vật, và từng vật thể trên hoặc trong nó, và sau đó từng chi tiết của từng vật thể, và cuối cùng là những chi tiết của những chi tiết, nói thế nào nhỉ: một vết lõm hay dập nổi nhỏ, hoặc một bờ gờ, và chính xác từng đường gân và màu sắc của những sản phẩm gỗ. Cùng thời gian tôi bắt ép bản thân phải tìm kiếm trong sáng tạo trí não của mình từ đầu cho tới cuối, trong trật tự đúng và loại những đồ vật không có. Với kết quả như vậy, sau một vài tuần, tôi có thể dành hàng giờ chỉ để liệt kê các đồ vật trong phòng ngủ của mình. Tôi tìm thấy nhiều hơn tôi nghĩ, nhiều chi tiết hơn, quên-một nửa hoặc thiếu quan sát, nổi lên từ trí nhớ của tôi.  Dường như không thể kết thúc chúng.

Bởi thế tôi nhận ra rằng, sau kinh nghiệm của mỗi ngày đơn lẻ từ thế giới bên ngoài, một người đàn ông có thể dễ như sống một trăm năm trong tù. Anh ta nằm đó tích đủ trí nhớ chẳng bao giờ buồn tẻ. Hiển nhiên là, trong một cách, đây là một sự đền bù.

Sau đó có giấc ngủ. Để bắt đầu, tôi ngủ đêm tệ và chưa từng ngủ ngày. Nhưng dần dần những ngủ đêm của tôi tốt hơn, và tôi hướng cũng chợp mắt trong ngày cho khỏe. Thực tế, trong những tháng trước, tôi phải ngủ mười sáu đến mười tám giờ trong hai mươi tư giờ. Bởi vậy chỉ còn sáu giờ để lấp đầy – với các bữa ăn, nhu cầu cá nhân, trí nhớ của tôi… và câu chuyện của người Séc.

Một ngày, khi kiểm tra chiếu rơm của tôi, tôi tìm ra một mẩu báo mắc ở phía cạnh. Giấy đã ngả vàng qua thời gian, hầu hết đã trong suốt, nhưng tôi có thể vẫn nhận ra những chữ in trên đó. Nó là một câu chuyện tội phạm. Phần đầu tiên đã bị mất, nhưng tôi tập hợp những hình ảnh của nó là một ngôi làng ở Czechoslovakia. Một trong những người làng đã rời khỏi nhà mình để tìm kiếm may mắn ở nước ngoài. Sau hai mươi lăm năm, đủ giàu có, ông trở về quê nhà cùng vợ và đứa nhỏ. Trong khi mẹ ông và chị gái đang điều hành một khách sạn nhở trong ngôi làng nơi ông được sinh ra. Ông quyết định mang đến cho họ một điều ngạc nhiên và, để vợ của ông cùng đứa trẻ ở trong một nhà trọ khác, ông đến nghỉ tại nhà của mẹ mình, thuê một phòng dưới một cái tên giả. Mẹ ông và chị gái hoàn toàn không nhận ra nổi ông. Ăn tối tại ngay đêm đó ông chỉ cho họ thấy một khoản tiền khổng lồ mà ông mang theo cùng, và ngay trong đêm họ đã giết ông bằng một chiếc búa. Sau khi lấy tiền họ thả xác ông xuống dòng sông. Sáng hôm sau vợ của ông đến, và không nghĩ gì, đã nói cho biết thân phận của người khác. Mẹ ông đã treo cổ tự tử. Chị gái ông trẫm mình xuống giếng. Tôi phải đọc câu chuyện đó cả ngàn lần. Trong một cách câu chuyện dường như không hoàn toàn giống vậy; trong cách khác, nó đủ hợp lí. Dầu sao thì, trong trí nhớ của tôi, người đàn ông đã tự chuốc vạ; ai lại nên chơi trò ú tim kiểu đó.

Bởi thế, với một cơn ngủ dài, trí não của tôi, đọc mẩu báo, lượn sóng ánh sáng và bóng tối, nhiều ngày trượt qua. Tôi đã đọc, tất nhiên, trong nhà tù từ đầu tới cuối để trượt khỏi rãnh thời gian. Nhưng điều này chưa bao giờ có ý nghĩa là một điều gì đó đối với tôi. Tôi đã không nắm chặt nhiều ngày có thể lúc này dài hay ngắn thế nào. Dài, không nghi ngờ gì nữa, như nhiều giai đoạn để sống qua, nhưng nổi lên là ngày này qua đi bằng việc trùng khít lên ngày khác. Trong thực tế, tôi chưa bao giờ nghĩ về nhiều ngày như kiểu đó; chỉ có những từ “ngày hôm qua” và “ngày mai” là vẫn còn giữ được ý nghĩa của nó.

Khi, một buổi sáng, cai tù thông báo cho tôi tôi đã ở tù được sáu tháng, tôi tin cai tù – nhưng những từ ngữ chẳng dấy lên điều gì trong trí não của tôi. Với tôi nó dường như giống một ngày và ngày giống hệt đã trôi qua kể từ lúc tôi phải vào buồng giam, và đó là tôi đã đang làm điều giống hết trong suốt thời gian.

Sau khi cai tù để tôi lại tôi cọ bóng chiếc chén thiếc của tôi và cắm mặt vào làm việc đó. Biểu hiện của tôi vô cùng khủng khiếp, tôi nghĩ, thậm chí khi tôi đã cố gắng mỉm cười. Tôi giữ chiếc chén chén thiếc trong nhiều góc khác nhau, nhưng luôn luôn trên mặt tôi có một vẻ buồn đau giống hệt, biểu hiện căng thẳng.

Mặt trời đang chiếu sáng và đó là thời gian tôi đã không thèm cất lời – “giờ khắc không có tên”, tôi gọi nó vậy – khi đêm dường như đang bò dần khắp cả sàn nhà tù đầy ám ảnh khiếp đảm. Tôi đi đến cửa sổ nhà giam và trong những tia sáng cuối cùng nhìn thêm lần nữa gương mặt mình trong gương. Nó nghiêm trọng như lúc trước; và không ngạc nhiên gì, và đúng sau đó tôi cảm thấy khủng khiếp. Nhưng, cùng lúc, tôi nghe thấy điều gì mà tôi đã chưa từng nghe trong nhiều tháng. Đó là tiếng động của một giọng nói; giọng nói của chính tôi, không thể nào khác được. Và tôi nhận ra nó là giọng nói như nhiều ngày muộn tôi nghe thấy trong tai mình. Bởi vậy tôi biết trong tất cả thời gian này tôi đã tự nói lẩm nhẩm một mình.

Và điều mà tôi nói với mình trở lại; một dấu mốc của chính cô y tá tại đám tang của Mẹ. Không, không còn cách nào khác, và không ai có thể tưởng tượng những buổi đêm đó giống như ở trong tù.

(Hết chương II, Phần II)

Còn tiếp

(*) Đọc Camus vừa sướng lại vừa run khi chuyển ngữ những thông điệp của ông ra tiếng Việt. Đọc mà cứ phải thật từ từ, thấy khó hiểu lại phải quay đi quay lại, rà đi rà lại. Đọc sướng xong lại thấy sợ, bởi không hiểu mình đã hiểu hết được ý chuyển tải của ông. Ờ, nhưng cứ đang bước từng bước một, đều đều, chậm rãi. Các chuyên gia thông tuệ về Camus mau mau chỉ giáo giùm với ạ. (:)