Người lạ (tiếp theo 17)

3000

Albert Camus ở Paris, Pháp năm 1959. Ảnh: AFP/Getty Image.

NGƯỜI LẠ

Albert Camus

Dựa theo bản dịch tiếng Anh từ tiếng Pháp của Stuart Gilbert (N.H.T chuyển ngữ (*)/Phần 2)

>> Phần trước

Phần II

I

TÔI bị tra hỏi vài lần ngay lập tức sau khi bị bắt. Nhưng tất cả là những kiểm tra chính thống, như nhân thân của tôi và vân vân. Việc điều đầu tiên của những điều này diễn ra tại sở cảnh sát, dường như không một ai quan tâm cho lắm trong trường hợp này. Tuy nhiên tôi được chuyển đi trước khi gặp Dự thẩm, tôi thấy mắt ông ta nhìn tôi nghi ngờ rõ rệt. Giống như những người khác, ông bắt đầu hỏi tôi tên, địa chỉ và nghề nghiệp, và ngày sinh cùng nơi sinh của tôi. Sau đó ông ướm hỏi tôi có chọn một luật sư bảo vệ. Tôi đáp, “không”, tôi đã không nghĩ vê nó và hỏi ông có thực sự cần thiết tôi cần có một luật sư.

“Tại sao cậu hỏi vậy?”, ông hỏi. Tôi đáp lại tôi thấy trường hợp của tôi rất đơn giản. Ông mỉm cười, “Ồ, có lẽ dường như với cậu là vậy. Nhưng chúng ta có luật pháp tuân thủ, và, nếu cậu không có một luật sư, phiên tòa sẽ phải chỉ định cho cậu”.

Điều này tôi thấy ấn tượng như một cuộc sắp xếp hoàn hảo mà những người tổ chức kiểu này nên xem xét chi tiết, và tôi nói ông cứ làm vậy. Ông gật đầu, và đồng ý rằng tất cả Điều khoản có thể được xem xét.

Ban đầu tôi không tiếp đón ông thực sự thoải mái. Căn phòng nơi ông phỏng vấn tôi quá giống một phòng khách bình thường, có các cửa sổ mắc rèm, và một chiếc đèn đơn đặt trên bàn. Ánh sáng của nó hắt xuống ghế tựa nơi ông để tôi ngồi, trong khi bản thân gương mặt ông lấp trong bóng tối.

Tôi đọc những mô tả các cảnh giống thế này trong nhiều cuốn sách, và lúc đầu tất cả dường như giống một trò chơi. Sau cuộc hội thoại của chúng tôi, tuy nhiên, tôi có một cái nhìn thiện cảm về ông. Ông là một người cao có hình hài gọn ghẽ, mắt xanh trời sâu, ria mép xám rậm, và tóc hầu hết đã trắng-tuyết, dày, và ông đem tới tôi một ấn tượng của thông minh vượt trội, và, tổng thể, đủ để có thể yêu mến. Chỉ có một điều có thể khác: Miệng của ông thỉnh thoảng lại mím hơi xấu xí; nhưng dường như chỉ là một kiểu chuyển động cơ mặt căng thẳng. Lúc rời đi, tôi đã gần như chìa tay và nói, “tạm biệt”, nhưng đúng lúc tôi nhớ ra tôi đã giết người.

Ngày hôm sau một luật sư đến phòng giam của tôi; một người đàn ông trông trẻ, hơi tròn, thấp người có mái tóc đen mượt sáng. Mặc dầu rất nóng – tôi mặc áo sơ mi dài tay – y đang mặc một áo comple sẫm màu, cổ cứng, cà vạt hơi trưng, có kẻ trắng đen chìm. Sau khi đặt những chiếc va-li của y lên giường tôi, y giới thiệu bản thân, và nói thêm y theo trường hợp của tôi với sự quan tâm hết thảy. Quan điểm của y là cần điều tiết cẩn trọng, nhưng có mọi triển vọng khiến tôi bất lợi, yêu cầu tôi phải theo lời khuyên của y. Tôi cảm ơn y, và y nói: “Tốt. Giờ chúng ta bắt tay thôi”.

Ngồi trên giường, y nói mọi người đã thực hiện thẩm tra đời tư của tôi. Họ biết mẹ tôi gần đây chết tại một Viện dưỡng lão. Mọi thủ tục đã được thực hiện tại Marengo và cảnh sát thông tin tôi đã biểu hiện như “kẻ bất tri khủng khiếp” tại đám tang của mẹ tôi.

“Cậu phải hiểu”, luật sư nói, “tôi không mừng gì đặt câu hỏi với cậu về một vấn đề như vậy. Nhưng nó có tầm quan trọng ghê gớm, và trừ khi tôi tìm vài cách trả lời liên quan tới “bất tri”. Tôi sẽ tìm mọi cách bảo vệ cậu. Và đó là cậu ở đâu,và chỉ cậu có thể giúp tôi”.

Y tiếp tục hỏi tôi có cảm thấy buồn khổ về “chuyện buồn” đó. Câu hỏi đập vào tôi như một điều lạ; tôi đã rất xấu hổ nếu tôi phải hỏi ai đó một điều giống như vậy.

Tôi đáp, những năm gần đây, tôi đánh mất thói quen điểm lại cảm giác của mình, và khó biết trả lời cái gì. Tôi có thể thật thà nói rằng tôi hoàn toàn yêu Mẹ – nhưng thực sự ý nghĩa đã không phải nhiều như vậy. Tất cả người bình thường, tôi thêm vào sau khi  nghĩ, có nhiều hay ít vẫn còn yêu sau cái chết của người thân, lúc này hay lúc khác.

Lúc ấy luật sư cắt ngang tôi, nhìn đầy lo lắng.

“Cậu phải hứa với tôi không nói điều gì kiểu như vậy tại phiên tòa, hoặc đối với Dự thẩm”.

Tôi hứa, để hài lòng y, nhưng tôi giải thích điều kiện con người của tôi  tại bất cứ thời điểm nào thường ảnh hưởng cảm xúc của tôi. Ví dụ, vào cái ngày tôi dự đám tang Mẹ, tôi đã kiệt sức và nửa tỉnh nửa mê. Bởi thế, thực là, tôi khó cảm nhận được chuyện gì đã đang xảy ra. Dẫu sao, tôi có thể đảm bảo với y một điều: Tôi giá như như mẹ tôi chưa chết.

Luật sư, tuy vậy, trông không hài lòng. “Đó chưa đủ”, y nói cộc lốc.

Sau khi băn khoăn một chút, y hỏi tôi đến ngày đó y có thể nói tôi đã để cảm xúc của mình dưới kiểm soát.

“Không” tôi đáp, “đó không phải là sự thật”.

Y nhìn tôi với vẻ kì quặc, tựa như tôi có làm phiền lòng y tí chút; sau đó thông báo cho tôi, với một tông giọng hoàn toàn cao vút, như viện dẫn có thế nào, thì ông giám đốc Viện dưỡng lão và một vài nhân viên sẽ có mặt làm chứng.

“Và có lẽ phải chăng cậu rất chi là trở nên nguy hiểm”, y kết luận.

Khi tôi khẳng dịnh cái chết của Mẹ không có một sự liên quan nào đến những căn cứ buộc tội chống lại tôi, y đơn thuần đáp lại dấu mốc này cho thấy tôi chưa hiểu gì luật pháp.

Sau chuyện đó y rời khỏi, trông hoàn toàn giận dữ. Tôi mong y ở lại lâu hơn và tôi có thể giải trình hòng có được sự cảm thông của y, không phải cho việc làm của  y tốt hơn khi bảo vệ tôi, mà, nếu tôi cũng có thể làm được điều đó, một cách đồng thời. Tôi có thể nhìn thấy tôi đã khiến y căng thẳng thần kinh; y không thể khiến tôi tự do, và, đủ tự nhiên điều này chọc giận y. Một hay hai lần tôi đã định trong đầu để nhắc y tôi chỉ giống như mọi người khác; một con người hoàn toàn bình thường. Nhưng thật sự điều đó đã phục vụ không cho một mục đích lớn nào cả, và tôi để nó qua – thoát khỏi sự lười biếng càng nhiều cái khác nữa.

Muộn cuối ngày, tôi được đưa tới văn phòng của Dự thẩm lần nữa. Đó là hai giờ chiều, và, lúc này, căn phòng tràn ngập ánh sáng – nơi chỉ có duy nhất một chiếc rèm mỏng trên cửa sổ – và nóng khủng khiếp.

Sau khi mời tồi ngồi xuống, vị dự thẩm thông báo cho tôi  bằng một giọng nói vô cùng lịch sự, “bởi vì mọi hoàn cảnh không thấy trước”, luật sư của tôi không thể có mặt. Tôi nên toàn quyền, y nói thêm, chưa trả lời câu hỏi của y cho tới khi luật sư cả tôi có thể có mặt.

Với điều này tôi đáp tôi có thể tự trả lời câu hỏi. Y nhấn một chiếc chuông trên bàn làm việc của y và một thư kí trẻ bước vào và ngồi xuống ngay phía sau tôi. Rồi chúng tôi – tôi và Dự thẩm – ngả lưng về sau, và cuộc hỏi cung bắt đầu. Y chỉ dẫn bằng cách nhấn mạnh tôi vốn rõ là một kẻ ít lời, hơn là một người coi mình là trung tâm, và y muốn biết tôi phải nói điều gì. Tôi trả lời:

“Ồ, tôi hiếm hoi lắm mới có nhiều điều để nói. Bởi thế, tự nhiên tôi ngậm miệng”.

Y mỉm cười y như lúc trước, và đồng ý cách tốt nhất của mọi lí do. “Trong mọi trường hợp”, y nói, “hoặc nói ít hoặc không quan trọng”.

Sau một lúc im lặng y đột nhiên bất ngờ chồm về phía trước, nhìn vào mắt tôi và nói, giọng của y có cao lên đôi chút:

“Điều tôi thực sự quan tâm là – cậu!”.

Tôi hoàn toàn không rõ y ý gì, vì vậy tôi không bình luận.

“Có một vài điều”, y tiếp tục, “đánh đố tôi về trường hợp phạm tội của cậu. Tôi cảm thấy chắc chắn cậu sẽ giúp tôi hiểu rõ”.

Khi tôi đáp thực sự hoàn toàn giản đơn, y yêu cầu tôi kể cho y, tôi đã làm những gì hôm đó. Như một vấn đề của thực tế, tôi đã kể cho y lần đầu tiên phỏng vấn giữa chúng tôi – nói gọn, tất nhiên – về Raymond, bãi biển, cuộc bơi của chúng tôi, ẩu đả và rồi lại bãi biển, tôi đã nhả đạn năm phát. Nhưng tôi nói sơ qua tất cả lần nữa, sau từng đoạn y gật đầu: “Hoàn toàn đúng vậy, hoàn toàn phải vậy”. Khi tôi mô tả cơ thể nằm trên cát, y gật đầu rõ mạnh thêm, và nói: “Tốt!”. Tôi mệt mỏi vì nhắc đi nhắc lại câu chuyện; Tôi cảm giác tôi chưa từng nói nhiều như thế trong cuộc đời mình kể từ trước tới giờ.

Lại một đợt im lặng khác y đứng dậy và nói y muốn giúp tôi; tôi quan tâm tới y, và, với sự giúp đỡ của Chúa, y sẽ làm gì đó cho rắc rối của tôi. Nhưng, trước tiên, y buộc phải đưa ra thêm một vài câu hỏi.

Y bắt đầu hỏi kiểu như tôi có yêu Mẹ mình.

“Có”, tôi đáp, “giống như mọi người khác”. Thư kí ngồi phía sau  tôi, đang gõ lại những lời khai với tốc độ đều đặn, chắc vừa mới gõ sai phím, lúc tôi nghe cậu ta nhấn phím quay lại và xóa đi.

Tiếp đến, không một liên hệ logic rõ ràng, vị dự thẩm đưa ra câu hỏi khác.

“Tại sao cậu bắn cả chuỗi năm phát?”

Tôi nghĩ một lát; sau đó giải thích đó không hoàn toàn là cả chuỗi liên hoàn. Tôi bắn một phát đầu tiên, và bốn phát tiếp theo sau khi ngừng một chút.

“Tại sao cậu ngừng lại giữa lần bắn đầu tiên và lần bắn thứ hai?”.

Tôi dường như thấy mọi thứ quay chậm lại trước mắt tôi, luồng đỏ của bãi biển, và cảm thấy hơi thở mạnh bên hai má tôi – và, lúc này, tôi không có câu trả lời.

 

Trong khoảng lặng tiếp theo, Dự thẩm giữ vẻ bồn chồn, cào ngón tay vào tóc, nửa nhổm đứng dậy, sau đó lại ngồi xuống. Cuối cùng, y chống khuỷu tay xuống bàn, y hướng hẳn về phía tôi với một biểu hiện kì quặc.

“Nhưng, tại sao, tại sao cậu nhằm bắn vào một người đã chết?”.

Lần nữa tôi không thể đáp lời.

Vị dự thẩm vẽ vẽ tay lên trán và nhắc lại nó trong một tông giọng khác hẳn nhẹ nhàng.

“Tôi hỏi cậu, tại sao?. Tôi năn nỉ cậu nói tôi nghe”. Tôi vẫn giữ im lặng.

Bỗng nhiên y đứng dậy, bước tới ô tủ đựng tài liệu phía tường đối dện, kéo mở ngăn kéo, lấy từ đó ra một tượng Chúa bằng bạc, y vẩy vẩy nó lúc  y trở lại bàn.

“Cậu có biết đây là ai không?”, giọng của y thay đổi hoàn toàn; cảm xúc tăng ghê gớm.

“Tất nhiên là tôi biết”, tôi đáp.

Điều đó dường như bắt đầu khiến y bất ngờ; y bắt đầu nói với quãng lớn y nói y tin vào Chúa, và thậm chí những kẻ phạm tội tồi tệ nhất có thể có được sự tha thứ của Ngài. Nhưng trước hết y phải hối tiếc, và trở nên giống như một đứa trẻ, có một trái tim tin cậy, giản đơn, mở lòng thú tội. Y dựa thẳng vào bàn, nguẩy nguẩy tượng Chúa trước mắt tôi.

Như một vấn đề của thực tế, tôi gặp một khó khăn ghê gớm để theo dõi những nhấn mạnh của y, như, bởi một điều, văn phòng quá nóng nực và ruồi nhặng đang ve vẩy xung quanh và đậu cả vào hai má tôi; cũng bởi vì, kể như y đánh thức tôi. Dĩ nhiên tôi nhận ra thật lạ lùng khi cảm giác giống như thế này, kiểu như là, sau tất thảy, chính tôi là tên phạm tội. Tuy nhiên, khi y tiếp tục nói, tôi cố gắng hiểu tốt nhất, và tôi tập trung rằng chỉ có một điểm trong mọi thú nhận của tôi tồi tệ đến mức cần phải làm sáng rõ vấn đề – thực tế tôi chờ trước khi nhấn cò lần hai. Tất cả còn lại là, để nói là, hoàn toàn đúng trật tự; nhưng điều đó làm y lẫn lộn hoàn toàn.

Tôi bắt đầu kể cho y là y đã nhầm khi khẳng định điều này, quan điểm là của sự quan trọng hoàn toàn bên trong. Nhưng trước khi tôi có thể nói ra mọi thứ,  y đã đứng thẳng người dậy và hỏi tôi với vẻ thực lòng liệu tôi có tin vào Chúa. Khi tôi nói, “không”, y thả lõng người xuống chiếc ghế của y bực bội.

Điều đó khó có thể nghĩ đến, y nói; tất cả mọi người đều tin vào Chúa, thậm chí với những người không yêu Ngài. Bởi vì điều này y hoàn toàn chắc chắn; nếu từng y nghi ngờ nó, cuộc đời y hẳn đã mất hết mọi ý nghĩa rồi. “Cậu  có hứa”, y hỏi rất khó chịu, “cuộc đời của tôi chẳng có ý nghĩa gì không?”. Thực ra, tôi không thể thấy được những lời hứa của tôi đã đến như thế nào, và tôi nói với y nhiều như vậy.

Khi tôi đang nói, y quệt tượng Chúa lần nữa dưới mũi tôi và quát to: “Tôi, dầu sao, cũng là một người Thiên Chúa Giáo. Và tôi cầu nguyện Ngài tha thứ cho những tội lỗi của cậu. Chàng trai trẻ tội nghiệp của tôi, thế nào mà cậu có thể không tin vào những tổn thương mà Ngài đang chịu cho cậu?”.

Tôi nhận ra con người y dường như hạnh phúc thuần khiết khi y nói: “Chàng trai trẻ khốn khổ của tôi” – nhưng tôi đang bắt đầu thấy đủ với nó rồi. Căn phòng ngày càng trở nên hầm hập rõ ràng hơn.

Lúc tôi thường làm khi tôi muốn thoát khỏi ai đó  mà câu chuyện của tôi làm tôi buồn tẻ, tôi giả vờ đồng ý. Lúc ấy hơn cả sự ngạc nhiên của tôi, gương mặt y sáng lên.

“Cậu thấy đấy! Cậu thấy chưa nào! Giờ đây cậu sẽ không tự mình khăng khăng rằng cậu không tin và đặt niềm tin của cậu vào Ngài nữa chứ?”.

Tôi phải lắc đầu tôi một lần nữa, y lại ngồi thụp xuống ghế của y, trông mệt mỏi và thất vọng.

Một lúc sau có một sự im lặng trong lúc người đánh máy, đã khua phím trong suốt thời gian chúng tôi nói chuyện, có được những đánh dấu cuối cùng. Sau đấy y nhìn tôi trống rỗng và buồn bã.

“Chưa từng  xảy ratrong tất cả kinh nghiệm của tôi mà tôi biết, có một tâm hồn rắn đá như của cậu”, y nói trong một âm vực thấp. “Tất cả những kẻ tội phạm những người tồi trước tôi cho tới lúc này đều khóc khi họ nhìn thấy biểu tượng tổn thương này từ Đứa chúa trời của chúng ta”.

Tôi đứng trên quan điểm trả lời chính xác là vậy, bởi vì họ những kẻ phạm tội. Nhưng sau đó tôi đã nhận ra rằng tôi, cũng như, giống như mô tả đó. Cho dù đã là một ý tưởng tôi chưa từng có thể được quen được.

Để chỉ ra, có thể tóm lại, là cuộc phỏng vấn đã kết thúc, Dự thẩm đứng dậy. Trong giọng nói yếu ớt như lúc trước, y hỏi tôi một câu hỏi cuối cùng: Tôi có hối tiếc về những gì tôi đã làm?

Sau khi nghĩ một chút, tôi đáp lại những gì tôi cảm thấy ít hối tiếc hơn là một kiểu giận dữ– tôi không thể tìm được một từ tốt hơn nó. Nhưng y đã dường như không hiểu… Đây là những điều đã vượt tầm cuộc phỏng vấn này hôm đó.

Tôi đến trước Dự thẩm nhiều lần hơn nữa, nhưng những dịp này luật sư của tôi luôn luôn đi cùng tôi. Các cuộc thẩm tra được giới hạn bằng việc hỏi tôi nhằm bổ sung những lời khai của tôi trước đó. Hoặc là Dự thẩm và luật sư của tôi bàn bạc cách thức. Cứ mỗi lần họ để ý rất ít đến tôi, và, trong bất cứ trường hợp nào, cung bậc của những cuộc thẩm tra đã thay đổi khi thời gian dần trôi. Vị dự thẩm dường như đã quên hẳn quan tâm tới tôi, và đã đi đến quyết định – kiểu –như-rõ ràng về trường hợp của tôi. Y không thèm lưu ý tới Chúa một lần nào nữa hoặc biểu hiện bất cứ cơn sốt tôn giáo nào như tôi đã thấy quá xấu hổ tại cuộc thẩm vấn đầu tiên. Kết quả là mối quan hệ của chúng tôi trở nên thân thiện hơn. Sau một vài câu hỏi, luật sư có nhận xét sau đó, Dự thẩm kết thúc tra hỏi. Trường hợp của tôi là “tiếp tục ra tòa thôi”, như y thế làm. Thỉnh thoảng, cũng vẫn vậy, cuộc hội thoại theo một trật tự chung , và vị dự thẩm cùng luật sư khuyến khích tôi hợp tác với họ. Tôi bắt đầu thở tự do hơn. Không ai trong hai người đàn ông, ở những lúc này, chỉ cho thấy trách nhiệm tối thiểu đối với tôi, và mọi thứ trở nên quá dễ dàng, quá kì lạ, khiến tôi có một ấn tượng kì quặc kiểu “trong một gia đình”. Tôi trung thực có thể nói rằng trong suốt 11 tháng  thẩm vấn này kéo dài tôi đã quá quen với họ làm tôi hầu như ngạc nhiên đến mức vui mừng tốt hơn cả những khoảnh khắc hiếm hoi đó, khi Dự thẩm sau khi tống tiễn tôi tới cửa của văn phòng, đã đập vào vai tôi và nói kiểu như bạn bè. “Ồ, anh chống Chúa đó là tất cả cho lúc này!”. Sau đó tôi trở lại với các cai tù của tôi.

(Hết chương I, phần II)

(*) Chương đầu tiên của phần II, Camus viết khá hiền, chưa bộc lộc được đúng những quan sát tinh tế, chậm rãi, đầy tính nhân văn của tác giả. Nhưng Camus đi vào chiều sâu hơn của nhân vật. Cái chiều sâu tính cách, nhìn được hai thái cực của con người. Một sự bình thản thấy sự việc giết người là phải diễn ra như thế –  thật bình thường – một sự việc tại chỗ; và một sự ép buộc của Dự thẩm (người điều tra trước khi vụ việc ra tòa) như muốn lí giải thật rõ từng động thái của kẻ cầm súng, động cơ tại sao giết người. Hai thái cực rõ ràng, rành mạch.

 

Advertisements

One thought on “Người lạ (tiếp theo 17)

  1. Pingback: Người lạ (tiếp theo 18) | hieuthao-journalism-online-course

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s