Người lạ (tiếp theo 15)

Albert-Camus-012

Albert Camus trong một lần tới nói chuyện ở London, Anh. Nguồn ảnh: The Guardian.co.uk

NGƯỜI LẠ

Albert Camus

Dựa theo bản dịch tiếng Anh từ tiếng Pháp của Stuart Gilbert (N.H.T chuyển ngữ/Phần 1/Tiếp)

>> Phần trước

V

RAYMOND gọi điện tới văn phòng tôi. Anh ta nói một người bạn của anh ta – người mà anh ta kể về tôi – mời tôi dành chủ nhật tới tại căn nhà nhỏ bé bên bờ biển của anh ta ngay bên cạnh Algiers. Tôi nói với anh ta tôi lấy làm vui mừng; chỉ là tôi đã hứa dành ngày chủ nhật cho một cô bạn. Raymond ngay lập tức đáp lại, cô gái cũng có thể tới. Thực tế, vợ của anh bạn của anh ta rất vui mừng nếu như cô ấy không phải là người phụ nữ duy nhất trong bữa tiệc của đàn ông.

Tôi muốn dập máy ngay, bởi ông chủ tôi không đồng ý việc tôi sử dụng điện thoại của văn phòng cho những cuộc gọi cá nhân. Nhưng Raymond yêu cầu tôi giữ máy; anh ta có vài điều nữa nói với tôi, và đó là lí do tại sao anh ta gọi điện thoại tới cho tôi, vì anh ta có thể chờ cho tới đêm để chuyển lời mời.

“Chuyện là thế này”, anh ta nói, “tôi đã bị một số tên người A rập theo dõi suốt buổi sáng. Một trong số chúng là anh trai của cô gái mà tôi đang có quan hệ. Nếu cậu nhìn thấy thằng cha đó quanh ngôi nhà lúc cậu về, báo tớ biết nhé”.

Tôi hứa làm vậy.

Đúng lúc ấy ông chủ bước tới chỗ tôi. Khoảnh khắc ấy tôi cảm thấy khó chịu, bởi tôi nghĩ ông ấy đang muốn nói với tôi về trì trệ công việc và đừng có tốn thời gian chát chít với bạn bè qua điện thoại. Tuy nhiên, tịnh không phải vậy. Ông ấy muốn bàn với tôi một dự án tổng thể, việc ông ấy chưa thể có một quyết định nào. Việc mở một chi nhánh tại Paris, để có thể hợp tác làm ăn với các công ty lớn đang trong dự án, mà không bị lỗi đường bưu điện, và ông ấy cũng muốn tôi biết rằng tôi cần phải cắm chốt ở đó.

“Cậu là một người đàn ông trẻ”, ông ấy nói, “và tôi đoan chắc cậu thích thú sống ở Paris. Và, dĩ nhiên, cậu có thể du lịch quanh nước Pháp độ vài tháng trong năm”.

Tôi đáp lời ông tôi hoàn toàn chuẩn bị để tới; nhưng thực sự tôi chưa quan tâm kiểu này hay kiểu nọ.

Ông sau đó hỏi tôi nếu một “sự thay đổi của cuộc đời”, như ông gọi, đã không xảy đến với tôi, và tôi đáp một điều chưa bao giờ thay đổi cách sống của ông; một cuộc đời này cũng tốt như một cuộc đời khác, và cuộc sống hiện giờ của tôi hoàn toàn phù hợp với tôi.

Về điều này trông ông chủ có vẻ đau đớn, và ông bảo tôi là kẻ lưỡng lự, và rằng tôi thiếu tham vọng – một sản phẩm lỗi, trong tâm trí ông, tôi phải là một doanh nhân.

Tôi quay lại công việc của mình. Tôi thích không bực bội với ông ấy thì hơn, nhưng tôi trông thấy không có lí do nào “thay đổi cuộc đời tôi”. Nghĩa rộng hay hẹp thì đều không phải là vui vẻ gì. Lúc còn là sinh viên tôi có rất nhiều tham vọng kiểu như ông ấy đề cập. Nhưng, khi tôi không còn đi học nữa, tôi đã rất sớm nhận ra tất cả chỉ là vô phương thành đạt.

Marie đến tối đó và hỏi tôi có thể lấy nàng. Tôi nói tôi chưa nghĩ tới; nếu nàng thực mong muốn, chúng tôi kết hôn.

Rồi nàng hỏi tôi lần nữa tôi có yêu nàng. Tôi đáp, nhiều hơn trước, vậy câu hỏi của nàng không có nghĩa gì hay tiếp đây là không còn gì – nhưng chả bận tâm.

“Vậy anh thấy thế nào”, nàng hỏi, “tại sao cưới em?”.

Tôi giải thích không có điều gì thực sự quan trọng, nhưng, để đem lại cho nàng sự mừng vui, chúng ta có thể cưới ngay tắp lự. Tôi chỉ ra rằng, dầu thế nào, mọi đề nghị đến từ nàng; với tôi, chỉ đơn thuần trả lời, “đồng ý”.

Nàng khẳng định hôn nhân là một vấn đề nghiêm túc.

Với điều này tôi trả lời: “không”.

Nàng giữ im lặng sau đó, nhìn tôi chằm chằm đầy nghi ngờ. Rồi nàng hỏi:

“Giả sử một cô gái khác hỏi anh cưới cô ta – ý em là, một cô gái anh thích như kiểu anh đã thích em – anh cũng sẽ nói “đồng ý” đối với cô ta chứ?”.

“Hiển nhiên”.

Nàng bảo nàng băn khoăn liệu nàng có thực sự  yêu tôi hay không. Tôi, tất nhiên, không thể nào khiến nàng vui như kiểu đó. Lại tiếp nối im lặng, nàng lúng búng điều gì đó gọi tôi là “anh chàng kì quặc”. “Em dám nói đó là tại sao em yêu anh”, nàng nói thêm, “nhưng có lẽ đó cũng là tại sao một ngày em sẽ trở nên căm thù anh”.

Với chuyện này tôi chẳng có gì để nói, vì thế tôi không nói gì.

Nàng nghĩ thêm một lát, rồi bắt đầu mỉm cười, túm lấy tay tôi, nhắc lại rằng nàng thực sự nghiêm túc; nàng thực lòng muốn cưới tôi.

“Được thôi”, tôi trả lời. “Chúng ta sẽ cưới nhau bất cứ khi nào em muốn”. Sau đó tôi đề cập tới lời đề nghị của ông chủ tôi, và Marie bảo nàng thích được tới Paris.

Tôi kể với Marie tôi đã sống ở Paris một thời gian rồi, nàng hỏi tôi trông nó thế nào.

“Một kiểu thị trấn bẩn thỉu tối tăm, trong tâm trí anh. Nhiều nhiều lắm chim bồ câu và sân vườn tối mịt. Và con người có những gương mặt trắng, sạch sẽ”.

Chúng tôi đi dạo trên con đường xuyên qua thị trấn kéo tới những phố chính. Phụ nữ trông ưa nhìn, và tôi hỏi Marie, nàng, có nhận ra điều đó. Nàng đáp, “có” và nàng nhìn thấy những gì tôi muốn nói tới. Sau đó chúng tôi không nói gì trong vài phút. Tuy nhiên, khi tôi không muốn nàng rời bỏ tôi, tôi đề nghị chúng tôi nên ăn tối cùng nhau tại hàng ăn của Céleste. Nàng muốn đi ăn tối với tôi, nàng nói, chỉ là nàng đã chuẩn bị bữa tối rồi. Chúng tôi về gần nơi ở, và tôi nói,  “Au revoir”.

Nàng nhìn vào mắt tôi.

“Anh không muốn biết em đang làm gì buổi tối nay ư?”.

Tôi muốn biết chứ, nhưng tôi đã không nghĩ việc phải hỏi nàng, và tôi đoán nàng đang tạo ra một niềm đau khổ về nó. Tôi phải tỏ vẻ xấu hổ, bỗng chợt nàng bắt đầu phá lên cười và dựa vào tôi, ấn lưỡi của nàng dí một nụ hôn.

Tôi tới nhà hàng Céleste’s một mình. Khi tôi bắt đầu bữa tối một người phụ nữ nhỏ bé trông-dị biệt bước vào và hỏi cô ả có thể ngồi cùng bàn tôi. Tất nhiên cô ả được phép. Ả có một gương mặt phúng phính giống như một trái táo chín, mắt sáng, và di chuyển theo một cách giật cục gây tò mò, như kiểu cô ả bị giật dây. Sau khi cởi bỏ áo khoác treo lên mắc cô ả ngồi xuống và bắt đầu nghiên cứu bảng giá tiền đầy kĩ lưỡng. Sau đó cô ả gọi Céleste và gọi món, rất nhanh theo một kiểu hoàn toàn khác biệt; không thiếu không thừa một từ nào. Trong khi chờ món khai vị, cô ả mở túi, rút ra một mẩu giấy và bút chì, rồi cộng tổng tất cả hóa đơn. Nhét mọi thứ trở lại túi, cô ả mở ví và lấy chính xác tổng tiền, thêm chút tiền boa nhỏ mọn, và đặt cả trên tấm vải lót trước mặt ả.

Chỉ sau khi người bồi bàn mang đồ khai vị, cô ả trông như một con sói đói rình mồi. Trong khi chờ món tiếp theo, ả rút ra chiếc bút chì khác, lúc này là màu xanh, từ túi xách, và tờ tạp chí phát thanh cho tuần tới, và bắt đầu đánh dấu vào hầu hết toàn bộ đề mục chương trình hàng ngày. Có chừng hơn chục trang trong tờ tạp chí, và ả tiếp tục nghiên cứu chúng say mê suốt cả bữa ăn. Khi tôi ăn xong ả vẫn còn tiếp tục đánh dấu vào các mục với sự chú ý tới từng chi tiết. Xong cô nàng đứng dậy, mặc áo khoác đúng kiểu giật thột cử chỉ y-người máy, và bước ra khỏi nhà hàng độc lập và nhanh chóng.

Chả có gì hay ho hơn để làm, tôi theo dõi bước chân cô ả một đoạn. Bước chân lên đoạn trên của hè đường, ả thả bước đầu để thẳng, không ngó trước sau, và lạ kì làm sao cô ả có thể tìm đường rất nhanh, dù vóc người nhỏ bé. Trên thực tế, độ dài của từng bước chân như vậy là quá tải đối với tôi, và tôi nhanh chóng đã mất hút cô ả và trở lại về khu nhà. Chỉ trong khoảnh khắc “người máy bé nhỏ” (như ý nghĩa của tôi về ả) đã quá gây ấn tượng đối với tôi, nhưng tôi nhanh chóng đã quên ngay cô ả.

Khi đến cửa phòng tôi đâm sầm phải Salamano già cả. Tôi hỏi ông có muốn vào phòng tôi, và ông thông báo với tôi con chó của ông đã thực sự đi lạc mất rồi. Tôi đã tới sở cảnh sát để hỏi, nhưng con chó không có ở đó, và nhân viên đã nói lại với ông chắc con chó có thể chạy quanh quẩn đâu đó. Khi ông hỏi họ liệu ông có yêu cầu nào từ phía sở cảnh sát, họ đáp cảnh sát có nhiều điều quan trọng hơn là ghi nhận lại kỉ lục số chó lạc chạy rong khắp phố. Tôi gợi ý ông nên chọn một con chó khác, nhưng, lí do đầy đủ là, ông nhận ra ông đã trở nên quen thuộc với con chó cũ mất nổi, và chó mới không giống vậy.

Tôi ngồi lên giường của mình, đầu gối gấp, và Salamano ngồi trên chiếc ghế tựa cạnh bàn, đối mặt với tôi, hai tay ông để trên đầu gối. Ông vẫn đội chiếc mũ rách nát và đang nói lẩm bẩm phía dưới bộ râu kiến ngả vàng tỉa tót. Tôi nhận thấy ông hơi buồn tẻ, nhưng tôi không có gì để làm và chưa cảm thấy buồn ngủ. Bởi thế, để câu chuyện tiếp tục, tôi hỏi một vài câu về con chó của ông – ông nuôi nó bao lâu và cứ thế. Ông bảo với tôi ông nuôi nó ngay sau khi vợ ông mất. Ông kết hôn khá muộn. Khi còn là một chàng trai trẻ, ông muốn thử trên sàn diễn; trong thời gian quân ngũ ông thường đóng một số vai kịch với cả nhóm người và đóng khá tốt, mọi người nói vậy. Tuy nhiên, cuối cùng, ông lại có việc làm tại hãng đường sắt, và ông đã không hối tiếc về điều đó, bởi lúc này ông có một món lương hưu nhỏ. Ông và vợ ông chưa từng thắm thiết lắm, nhưng họ đã quen có nhau, và khi bà mất ông cảm thấy đơn côi. Một trong những người bạn của ông tại hãng đường sắt có chó mẹ mới sinh lũ chó con đã cho ông một con, và ông đã nuôi nó, như một người bạn. Ông đã chăm nó bằng sữa chai ban đầu. Nhưng, tuổi đời của một con chó ngắn hơn đời người, họ già đi cùng nhau, thế mới nói.

“Nó là một con chó nhặng xị”, Salamano nói, “Thỉnh thoảng chúng tôi lại có một vài cuộc uỵch nhau đáng kể, nó và tôi. Nhưng nó là một con chó tốt đấy chứ”.

Tôi đáp đó là con chó tuyệt vời, và điều đó hiển nhiên hài lòng lão già.

“Ồ, nhưng cậu mà nhìn thấy nó lúc chưa bị ốm!”, ông nói tiếp. “Nó có một bộ lông tuyệt vời; thực tế, đó là ưu điểm nhất của nó, thật đấy. Tôi đã cố chữa trị cho nó; hàng đêm sau khi nó mắt bệnh da tôi bôi cả kem giúp nó Nhưng vấn đề thực sự của nó là già nó, và chả có giải pháp nào cả”.

Đúng lúc ấy tôi ngáp, và lão già nói ông nên đi. Tôi nói ông có thể ở lại, và tôi lấy làm tiếc về những gì đã xảy ra với con chó của ông. Ông cảm ơn tôi, và lưu ý là mẹ tôi rất yêu mến con chó của ông. Ông nhắc tới bà bằng giọng “bà mẹ khốn khổ của cậu” và sợ rằng tôi sẽ phải tồi tệ thế nào trước cái chết của bà. Khi tôi nói không có gì ông nói nhanh thêm về không khí đáng xấu hổ của một số người trên phố nói những điều không hay về tôi vì tôi đã để mẹ sống ở Viện dưỡng lão. Nhưng ông, dĩ nhiên, biết rõ hơn; ông biết tôi yêu mẹ dường nào.

Tôi trả lời – tại sao, tôi vẫn còn không rõ cơ – điều này gây ngạc nhiên cho tôi nhận ra mình đã gây ấn tượng xấu thế nào. Khi tôi không thể giữ bà ở đây, hiển nhiên tôi phải làm vậy, gửi bà tới Viện. “Dù thế nào”, tôi nói thêm, “trong nhiều năm bà không nói một lời nào với tôi, và tôi có thể nhìn thấy bà như một chiếc chổi di động, không có ai để nói chuyện”.

“Đúng”, ông đáp, “và dầu sao ở viện bà có thể kết bạn”.

Ông đứng dậy, đến lúc ông phải đi ngủ rồi và nói thêm rằng cuộc sống sắp tới đây sẽ là một vấn đề đối với ông, dưới những điều kiện mới. Đây là lần đầu tiên kể từ khi tôi biết ông ông đã đưa tay ra cho tôi – có đôi chút ngại ngùng, tôi nghĩ – và tôi có thể cảm nhận được những nốt sần trên da ông. Khi ông đi tới cửa, ông quay lại và, nhếch mép cười, nói:

“Chúng ta cùng hi vọng những con chó sẽ không sủa nữa đêm nay. Tôi luôn luôn nghĩ đó là con chó của tôi lúc nghe thấy…”.

(Còn nữa)

 

 

Advertisements

One thought on “Người lạ (tiếp theo 15)

  1. Pingback: Người lạ (tiếp theo 16) | hieuthao-journalism-online-course

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s