Anh là ai

1080

Nóng quá, uống bia thôi! Nguồn ảnh: Guardian.co.uk

To whom maybe u know that

 

Anh là ai mà có quyền đến và đi không một lời hẹn hứa

Anh là ai mà nụ cười luôn rạng rỡ trước em

Anh là ai mà phút trước chưa quen

Tiếng sau đã là người tri kỉ

 

Anh là ai mà rất chi tỉ mỉ

Nói em nghe những ti tỉ đời mình

Anh là ai mà rất đỗi thình lình

Đến thoáng chốc rồi bỏ đi ngay được

 

Anh là ai mà em như đánh cược

Với cuộc chơi mạo hiểm lúc này

May rủi, rủi may phía trước

Để rồi như bạc nhược em tự hỏi mình: Anh là ai?!

 

Lúc này đây để mỗi sớm mai

Em tỉnh giấc với niềm ước vọng

Em còn mãi thấy lòng đang dậy sóng

Quyết tìm lại nụ cười và lời đáp cho: Anh là ai!

 

                                                                              @Jun.N.H.T.2017

 

Advertisements

Người lạ (tiếp theo 17)

3000

Albert Camus ở Paris, Pháp năm 1959. Ảnh: AFP/Getty Image.

NGƯỜI LẠ

Albert Camus

Dựa theo bản dịch tiếng Anh từ tiếng Pháp của Stuart Gilbert (N.H.T chuyển ngữ (*)/Phần 2)

>> Phần trước

Phần II

I

TÔI bị tra hỏi vài lần ngay lập tức sau khi bị bắt. Nhưng tất cả là những kiểm tra chính thống, như nhân thân của tôi và vân vân. Việc điều đầu tiên của những điều này diễn ra tại sở cảnh sát, dường như không một ai quan tâm cho lắm trong trường hợp này. Tuy nhiên tôi được chuyển đi trước khi gặp Dự thẩm, tôi thấy mắt ông ta nhìn tôi nghi ngờ rõ rệt. Giống như những người khác, ông bắt đầu hỏi tôi tên, địa chỉ và nghề nghiệp, và ngày sinh cùng nơi sinh của tôi. Sau đó ông ướm hỏi tôi có chọn một luật sư bảo vệ. Tôi đáp, “không”, tôi đã không nghĩ vê nó và hỏi ông có thực sự cần thiết tôi cần có một luật sư.

“Tại sao cậu hỏi vậy?”, ông hỏi. Tôi đáp lại tôi thấy trường hợp của tôi rất đơn giản. Ông mỉm cười, “Ồ, có lẽ dường như với cậu là vậy. Nhưng chúng ta có luật pháp tuân thủ, và, nếu cậu không có một luật sư, phiên tòa sẽ phải chỉ định cho cậu”.

Điều này tôi thấy ấn tượng như một cuộc sắp xếp hoàn hảo mà những người tổ chức kiểu này nên xem xét chi tiết, và tôi nói ông cứ làm vậy. Ông gật đầu, và đồng ý rằng tất cả Điều khoản có thể được xem xét.

Ban đầu tôi không tiếp đón ông thực sự thoải mái. Căn phòng nơi ông phỏng vấn tôi quá giống một phòng khách bình thường, có các cửa sổ mắc rèm, và một chiếc đèn đơn đặt trên bàn. Ánh sáng của nó hắt xuống ghế tựa nơi ông để tôi ngồi, trong khi bản thân gương mặt ông lấp trong bóng tối.

Tôi đọc những mô tả các cảnh giống thế này trong nhiều cuốn sách, và lúc đầu tất cả dường như giống một trò chơi. Sau cuộc hội thoại của chúng tôi, tuy nhiên, tôi có một cái nhìn thiện cảm về ông. Ông là một người cao có hình hài gọn ghẽ, mắt xanh trời sâu, ria mép xám rậm, và tóc hầu hết đã trắng-tuyết, dày, và ông đem tới tôi một ấn tượng của thông minh vượt trội, và, tổng thể, đủ để có thể yêu mến. Chỉ có một điều có thể khác: Miệng của ông thỉnh thoảng lại mím hơi xấu xí; nhưng dường như chỉ là một kiểu chuyển động cơ mặt căng thẳng. Lúc rời đi, tôi đã gần như chìa tay và nói, “tạm biệt”, nhưng đúng lúc tôi nhớ ra tôi đã giết người.

Ngày hôm sau một luật sư đến phòng giam của tôi; một người đàn ông trông trẻ, hơi tròn, thấp người có mái tóc đen mượt sáng. Mặc dầu rất nóng – tôi mặc áo sơ mi dài tay – y đang mặc một áo comple sẫm màu, cổ cứng, cà vạt hơi trưng, có kẻ trắng đen chìm. Sau khi đặt những chiếc va-li của y lên giường tôi, y giới thiệu bản thân, và nói thêm y theo trường hợp của tôi với sự quan tâm hết thảy. Quan điểm của y là cần điều tiết cẩn trọng, nhưng có mọi triển vọng khiến tôi bất lợi, yêu cầu tôi phải theo lời khuyên của y. Tôi cảm ơn y, và y nói: “Tốt. Giờ chúng ta bắt tay thôi”.

Ngồi trên giường, y nói mọi người đã thực hiện thẩm tra đời tư của tôi. Họ biết mẹ tôi gần đây chết tại một Viện dưỡng lão. Mọi thủ tục đã được thực hiện tại Marengo và cảnh sát thông tin tôi đã biểu hiện như “kẻ bất tri khủng khiếp” tại đám tang của mẹ tôi.

“Cậu phải hiểu”, luật sư nói, “tôi không mừng gì đặt câu hỏi với cậu về một vấn đề như vậy. Nhưng nó có tầm quan trọng ghê gớm, và trừ khi tôi tìm vài cách trả lời liên quan tới “bất tri”. Tôi sẽ tìm mọi cách bảo vệ cậu. Và đó là cậu ở đâu,và chỉ cậu có thể giúp tôi”.

Y tiếp tục hỏi tôi có cảm thấy buồn khổ về “chuyện buồn” đó. Câu hỏi đập vào tôi như một điều lạ; tôi đã rất xấu hổ nếu tôi phải hỏi ai đó một điều giống như vậy.

Tôi đáp, những năm gần đây, tôi đánh mất thói quen điểm lại cảm giác của mình, và khó biết trả lời cái gì. Tôi có thể thật thà nói rằng tôi hoàn toàn yêu Mẹ – nhưng thực sự ý nghĩa đã không phải nhiều như vậy. Tất cả người bình thường, tôi thêm vào sau khi  nghĩ, có nhiều hay ít vẫn còn yêu sau cái chết của người thân, lúc này hay lúc khác.

Lúc ấy luật sư cắt ngang tôi, nhìn đầy lo lắng.

“Cậu phải hứa với tôi không nói điều gì kiểu như vậy tại phiên tòa, hoặc đối với Dự thẩm”.

Tôi hứa, để hài lòng y, nhưng tôi giải thích điều kiện con người của tôi  tại bất cứ thời điểm nào thường ảnh hưởng cảm xúc của tôi. Ví dụ, vào cái ngày tôi dự đám tang Mẹ, tôi đã kiệt sức và nửa tỉnh nửa mê. Bởi thế, thực là, tôi khó cảm nhận được chuyện gì đã đang xảy ra. Dẫu sao, tôi có thể đảm bảo với y một điều: Tôi giá như như mẹ tôi chưa chết.

Luật sư, tuy vậy, trông không hài lòng. “Đó chưa đủ”, y nói cộc lốc.

Sau khi băn khoăn một chút, y hỏi tôi đến ngày đó y có thể nói tôi đã để cảm xúc của mình dưới kiểm soát.

“Không” tôi đáp, “đó không phải là sự thật”.

Y nhìn tôi với vẻ kì quặc, tựa như tôi có làm phiền lòng y tí chút; sau đó thông báo cho tôi, với một tông giọng hoàn toàn cao vút, như viện dẫn có thế nào, thì ông giám đốc Viện dưỡng lão và một vài nhân viên sẽ có mặt làm chứng.

“Và có lẽ phải chăng cậu rất chi là trở nên nguy hiểm”, y kết luận.

Khi tôi khẳng dịnh cái chết của Mẹ không có một sự liên quan nào đến những căn cứ buộc tội chống lại tôi, y đơn thuần đáp lại dấu mốc này cho thấy tôi chưa hiểu gì luật pháp.

Sau chuyện đó y rời khỏi, trông hoàn toàn giận dữ. Tôi mong y ở lại lâu hơn và tôi có thể giải trình hòng có được sự cảm thông của y, không phải cho việc làm của  y tốt hơn khi bảo vệ tôi, mà, nếu tôi cũng có thể làm được điều đó, một cách đồng thời. Tôi có thể nhìn thấy tôi đã khiến y căng thẳng thần kinh; y không thể khiến tôi tự do, và, đủ tự nhiên điều này chọc giận y. Một hay hai lần tôi đã định trong đầu để nhắc y tôi chỉ giống như mọi người khác; một con người hoàn toàn bình thường. Nhưng thật sự điều đó đã phục vụ không cho một mục đích lớn nào cả, và tôi để nó qua – thoát khỏi sự lười biếng càng nhiều cái khác nữa.

Muộn cuối ngày, tôi được đưa tới văn phòng của Dự thẩm lần nữa. Đó là hai giờ chiều, và, lúc này, căn phòng tràn ngập ánh sáng – nơi chỉ có duy nhất một chiếc rèm mỏng trên cửa sổ – và nóng khủng khiếp.

Sau khi mời tồi ngồi xuống, vị dự thẩm thông báo cho tôi  bằng một giọng nói vô cùng lịch sự, “bởi vì mọi hoàn cảnh không thấy trước”, luật sư của tôi không thể có mặt. Tôi nên toàn quyền, y nói thêm, chưa trả lời câu hỏi của y cho tới khi luật sư cả tôi có thể có mặt.

Với điều này tôi đáp tôi có thể tự trả lời câu hỏi. Y nhấn một chiếc chuông trên bàn làm việc của y và một thư kí trẻ bước vào và ngồi xuống ngay phía sau tôi. Rồi chúng tôi – tôi và Dự thẩm – ngả lưng về sau, và cuộc hỏi cung bắt đầu. Y chỉ dẫn bằng cách nhấn mạnh tôi vốn rõ là một kẻ ít lời, hơn là một người coi mình là trung tâm, và y muốn biết tôi phải nói điều gì. Tôi trả lời:

“Ồ, tôi hiếm hoi lắm mới có nhiều điều để nói. Bởi thế, tự nhiên tôi ngậm miệng”.

Y mỉm cười y như lúc trước, và đồng ý cách tốt nhất của mọi lí do. “Trong mọi trường hợp”, y nói, “hoặc nói ít hoặc không quan trọng”.

Sau một lúc im lặng y đột nhiên bất ngờ chồm về phía trước, nhìn vào mắt tôi và nói, giọng của y có cao lên đôi chút:

“Điều tôi thực sự quan tâm là – cậu!”.

Tôi hoàn toàn không rõ y ý gì, vì vậy tôi không bình luận.

“Có một vài điều”, y tiếp tục, “đánh đố tôi về trường hợp phạm tội của cậu. Tôi cảm thấy chắc chắn cậu sẽ giúp tôi hiểu rõ”.

Khi tôi đáp thực sự hoàn toàn giản đơn, y yêu cầu tôi kể cho y, tôi đã làm những gì hôm đó. Như một vấn đề của thực tế, tôi đã kể cho y lần đầu tiên phỏng vấn giữa chúng tôi – nói gọn, tất nhiên – về Raymond, bãi biển, cuộc bơi của chúng tôi, ẩu đả và rồi lại bãi biển, tôi đã nhả đạn năm phát. Nhưng tôi nói sơ qua tất cả lần nữa, sau từng đoạn y gật đầu: “Hoàn toàn đúng vậy, hoàn toàn phải vậy”. Khi tôi mô tả cơ thể nằm trên cát, y gật đầu rõ mạnh thêm, và nói: “Tốt!”. Tôi mệt mỏi vì nhắc đi nhắc lại câu chuyện; Tôi cảm giác tôi chưa từng nói nhiều như thế trong cuộc đời mình kể từ trước tới giờ.

Lại một đợt im lặng khác y đứng dậy và nói y muốn giúp tôi; tôi quan tâm tới y, và, với sự giúp đỡ của Chúa, y sẽ làm gì đó cho rắc rối của tôi. Nhưng, trước tiên, y buộc phải đưa ra thêm một vài câu hỏi.

Y bắt đầu hỏi kiểu như tôi có yêu Mẹ mình.

“Có”, tôi đáp, “giống như mọi người khác”. Thư kí ngồi phía sau  tôi, đang gõ lại những lời khai với tốc độ đều đặn, chắc vừa mới gõ sai phím, lúc tôi nghe cậu ta nhấn phím quay lại và xóa đi.

Tiếp đến, không một liên hệ logic rõ ràng, vị dự thẩm đưa ra câu hỏi khác.

“Tại sao cậu bắn cả chuỗi năm phát?”

Tôi nghĩ một lát; sau đó giải thích đó không hoàn toàn là cả chuỗi liên hoàn. Tôi bắn một phát đầu tiên, và bốn phát tiếp theo sau khi ngừng một chút.

“Tại sao cậu ngừng lại giữa lần bắn đầu tiên và lần bắn thứ hai?”.

Tôi dường như thấy mọi thứ quay chậm lại trước mắt tôi, luồng đỏ của bãi biển, và cảm thấy hơi thở mạnh bên hai má tôi – và, lúc này, tôi không có câu trả lời.

 

Trong khoảng lặng tiếp theo, Dự thẩm giữ vẻ bồn chồn, cào ngón tay vào tóc, nửa nhổm đứng dậy, sau đó lại ngồi xuống. Cuối cùng, y chống khuỷu tay xuống bàn, y hướng hẳn về phía tôi với một biểu hiện kì quặc.

“Nhưng, tại sao, tại sao cậu nhằm bắn vào một người đã chết?”.

Lần nữa tôi không thể đáp lời.

Vị dự thẩm vẽ vẽ tay lên trán và nhắc lại nó trong một tông giọng khác hẳn nhẹ nhàng.

“Tôi hỏi cậu, tại sao?. Tôi năn nỉ cậu nói tôi nghe”. Tôi vẫn giữ im lặng.

Bỗng nhiên y đứng dậy, bước tới ô tủ đựng tài liệu phía tường đối dện, kéo mở ngăn kéo, lấy từ đó ra một tượng Chúa bằng bạc, y vẩy vẩy nó lúc  y trở lại bàn.

“Cậu có biết đây là ai không?”, giọng của y thay đổi hoàn toàn; cảm xúc tăng ghê gớm.

“Tất nhiên là tôi biết”, tôi đáp.

Điều đó dường như bắt đầu khiến y bất ngờ; y bắt đầu nói với quãng lớn y nói y tin vào Chúa, và thậm chí những kẻ phạm tội tồi tệ nhất có thể có được sự tha thứ của Ngài. Nhưng trước hết y phải hối tiếc, và trở nên giống như một đứa trẻ, có một trái tim tin cậy, giản đơn, mở lòng thú tội. Y dựa thẳng vào bàn, nguẩy nguẩy tượng Chúa trước mắt tôi.

Như một vấn đề của thực tế, tôi gặp một khó khăn ghê gớm để theo dõi những nhấn mạnh của y, như, bởi một điều, văn phòng quá nóng nực và ruồi nhặng đang ve vẩy xung quanh và đậu cả vào hai má tôi; cũng bởi vì, kể như y đánh thức tôi. Dĩ nhiên tôi nhận ra thật lạ lùng khi cảm giác giống như thế này, kiểu như là, sau tất thảy, chính tôi là tên phạm tội. Tuy nhiên, khi y tiếp tục nói, tôi cố gắng hiểu tốt nhất, và tôi tập trung rằng chỉ có một điểm trong mọi thú nhận của tôi tồi tệ đến mức cần phải làm sáng rõ vấn đề – thực tế tôi chờ trước khi nhấn cò lần hai. Tất cả còn lại là, để nói là, hoàn toàn đúng trật tự; nhưng điều đó làm y lẫn lộn hoàn toàn.

Tôi bắt đầu kể cho y là y đã nhầm khi khẳng định điều này, quan điểm là của sự quan trọng hoàn toàn bên trong. Nhưng trước khi tôi có thể nói ra mọi thứ,  y đã đứng thẳng người dậy và hỏi tôi với vẻ thực lòng liệu tôi có tin vào Chúa. Khi tôi nói, “không”, y thả lõng người xuống chiếc ghế của y bực bội.

Điều đó khó có thể nghĩ đến, y nói; tất cả mọi người đều tin vào Chúa, thậm chí với những người không yêu Ngài. Bởi vì điều này y hoàn toàn chắc chắn; nếu từng y nghi ngờ nó, cuộc đời y hẳn đã mất hết mọi ý nghĩa rồi. “Cậu  có hứa”, y hỏi rất khó chịu, “cuộc đời của tôi chẳng có ý nghĩa gì không?”. Thực ra, tôi không thể thấy được những lời hứa của tôi đã đến như thế nào, và tôi nói với y nhiều như vậy.

Khi tôi đang nói, y quệt tượng Chúa lần nữa dưới mũi tôi và quát to: “Tôi, dầu sao, cũng là một người Thiên Chúa Giáo. Và tôi cầu nguyện Ngài tha thứ cho những tội lỗi của cậu. Chàng trai trẻ tội nghiệp của tôi, thế nào mà cậu có thể không tin vào những tổn thương mà Ngài đang chịu cho cậu?”.

Tôi nhận ra con người y dường như hạnh phúc thuần khiết khi y nói: “Chàng trai trẻ khốn khổ của tôi” – nhưng tôi đang bắt đầu thấy đủ với nó rồi. Căn phòng ngày càng trở nên hầm hập rõ ràng hơn.

Lúc tôi thường làm khi tôi muốn thoát khỏi ai đó  mà câu chuyện của tôi làm tôi buồn tẻ, tôi giả vờ đồng ý. Lúc ấy hơn cả sự ngạc nhiên của tôi, gương mặt y sáng lên.

“Cậu thấy đấy! Cậu thấy chưa nào! Giờ đây cậu sẽ không tự mình khăng khăng rằng cậu không tin và đặt niềm tin của cậu vào Ngài nữa chứ?”.

Tôi phải lắc đầu tôi một lần nữa, y lại ngồi thụp xuống ghế của y, trông mệt mỏi và thất vọng.

Một lúc sau có một sự im lặng trong lúc người đánh máy, đã khua phím trong suốt thời gian chúng tôi nói chuyện, có được những đánh dấu cuối cùng. Sau đấy y nhìn tôi trống rỗng và buồn bã.

“Chưa từng  xảy ratrong tất cả kinh nghiệm của tôi mà tôi biết, có một tâm hồn rắn đá như của cậu”, y nói trong một âm vực thấp. “Tất cả những kẻ tội phạm những người tồi trước tôi cho tới lúc này đều khóc khi họ nhìn thấy biểu tượng tổn thương này từ Đứa chúa trời của chúng ta”.

Tôi đứng trên quan điểm trả lời chính xác là vậy, bởi vì họ những kẻ phạm tội. Nhưng sau đó tôi đã nhận ra rằng tôi, cũng như, giống như mô tả đó. Cho dù đã là một ý tưởng tôi chưa từng có thể được quen được.

Để chỉ ra, có thể tóm lại, là cuộc phỏng vấn đã kết thúc, Dự thẩm đứng dậy. Trong giọng nói yếu ớt như lúc trước, y hỏi tôi một câu hỏi cuối cùng: Tôi có hối tiếc về những gì tôi đã làm?

Sau khi nghĩ một chút, tôi đáp lại những gì tôi cảm thấy ít hối tiếc hơn là một kiểu giận dữ– tôi không thể tìm được một từ tốt hơn nó. Nhưng y đã dường như không hiểu… Đây là những điều đã vượt tầm cuộc phỏng vấn này hôm đó.

Tôi đến trước Dự thẩm nhiều lần hơn nữa, nhưng những dịp này luật sư của tôi luôn luôn đi cùng tôi. Các cuộc thẩm tra được giới hạn bằng việc hỏi tôi nhằm bổ sung những lời khai của tôi trước đó. Hoặc là Dự thẩm và luật sư của tôi bàn bạc cách thức. Cứ mỗi lần họ để ý rất ít đến tôi, và, trong bất cứ trường hợp nào, cung bậc của những cuộc thẩm tra đã thay đổi khi thời gian dần trôi. Vị dự thẩm dường như đã quên hẳn quan tâm tới tôi, và đã đi đến quyết định – kiểu –như-rõ ràng về trường hợp của tôi. Y không thèm lưu ý tới Chúa một lần nào nữa hoặc biểu hiện bất cứ cơn sốt tôn giáo nào như tôi đã thấy quá xấu hổ tại cuộc thẩm vấn đầu tiên. Kết quả là mối quan hệ của chúng tôi trở nên thân thiện hơn. Sau một vài câu hỏi, luật sư có nhận xét sau đó, Dự thẩm kết thúc tra hỏi. Trường hợp của tôi là “tiếp tục ra tòa thôi”, như y thế làm. Thỉnh thoảng, cũng vẫn vậy, cuộc hội thoại theo một trật tự chung , và vị dự thẩm cùng luật sư khuyến khích tôi hợp tác với họ. Tôi bắt đầu thở tự do hơn. Không ai trong hai người đàn ông, ở những lúc này, chỉ cho thấy trách nhiệm tối thiểu đối với tôi, và mọi thứ trở nên quá dễ dàng, quá kì lạ, khiến tôi có một ấn tượng kì quặc kiểu “trong một gia đình”. Tôi trung thực có thể nói rằng trong suốt 11 tháng  thẩm vấn này kéo dài tôi đã quá quen với họ làm tôi hầu như ngạc nhiên đến mức vui mừng tốt hơn cả những khoảnh khắc hiếm hoi đó, khi Dự thẩm sau khi tống tiễn tôi tới cửa của văn phòng, đã đập vào vai tôi và nói kiểu như bạn bè. “Ồ, anh chống Chúa đó là tất cả cho lúc này!”. Sau đó tôi trở lại với các cai tù của tôi.

(Hết chương I, phần II)

(*) Chương đầu tiên của phần II, Camus viết khá hiền, chưa bộc lộc được đúng những quan sát tinh tế, chậm rãi, đầy tính nhân văn của tác giả. Nhưng Camus đi vào chiều sâu hơn của nhân vật. Cái chiều sâu tính cách, nhìn được hai thái cực của con người. Một sự bình thản thấy sự việc giết người là phải diễn ra như thế –  thật bình thường – một sự việc tại chỗ; và một sự ép buộc của Dự thẩm (người điều tra trước khi vụ việc ra tòa) như muốn lí giải thật rõ từng động thái của kẻ cầm súng, động cơ tại sao giết người. Hai thái cực rõ ràng, rành mạch.

 

Lươn (lẹo)

lươn

Nguồn ảnh: Internet.

Lươn là giống cá rất nhiều đạm. Những em nhỏ cần bổ sung dinh dưỡng và can-xi, các bà mẹ thường cẩn thận làm món cháo lươn ngon bổ cho các bé. Lươn không giống chạch, nó vàng ươm, dài hơn và đẹp hơn. Chạch và lươn và cùng giống, cùng loài, nhưng hình như giống lươn được yêu mến hơn, được dùng làm chất bổ dưỡng hơn cho cả trẻ em và người già.

Sáng nay, mình nhớ tới giống lươn. Mình cũng thích ăn lươn, nhất là món miến lươn ngay ở Lê Duẩn. Lươn được lọc kĩ, được rán đảo qua chảo, giòn tan, thơm phức. Lươn thơm hay đẩy đưa món miến là nhờ tay người làm.

Hi hi, mình vốn béo. Cứ nghĩ tới món ăn là đã tứa nước miếng. Cứ nghĩ tới món lươn này càng thích, càng yêu.

Ngày mai cũng tới ngày 21/6, ngày của báo chí. Giờ mọi người rầm rộ và tôn vinh những nhà báo. Nhưng phải là nhà báo đích thực nhé. Còn chỉ chệch một li chuẩn là lập tức chúng ta – những nhà báo – trở thành những chú LƯƠN (lẹo) vàng ươm, chỉ một phát là trở thành món nhậu.

Hi hi, chúc mừng các đồng nghiệp lần nữa nhân ngày Báo chí.

Người lạ (tiếp theo 16)

albert-camus_1965-12-23.gif

Minh họa Camus nhân điểm sách ông trên The New York Times. Nguồn ảnh: Internet.

NGƯỜI LẠ

Albert Camus

Dựa theo bản dịch tiếng Anh từ tiếng Pháp của Stuart Gilbert (N.H.T chuyển ngữ (*)/Phần 1/Tiếp)

>> Phần trước

VI

THẬT là một sự cố gắng thức dậy sáng Chủ nhật đó; Marie đã huých vào vai tôi và gào tên tôi. Khi chúng tôi muốn đi bơi sớm, chúng tôi không quan tâm ăn sáng. Đầu tôi đau nhẹ và điếu thuốc đầu tiên của tôi có vị đắng. Marie bảo tôi giống như một tay dự đám tang trong một nhà tang lễ, và tôi chắc chắn cảm nhận rất mơ hồ. Nàng diện một chiếc váy trắng và để thả tóc. Tôi nói nàng trông hoàn toàn yêu kiều, và nàng cười hạnh phúc.

Trên đường chúng tôi đi ra ngoài chúng tôi gõ cửa phòng của Raymond, và anh ta gào lên rằng anh ta sẽ đi cùng chúng tôi ngay. Chúng tôi xuống phố, cũng bởi dưới mọi điều kiện thời tiết nào và chúng tôi để căn phòng tối um, tia nắng đầu tiên của buổi sáng đập vào mặt tôi giống như một cú đánh tổng lực.

Marie, tuy nhiên, hầu như nhảy nhót với ánh sáng, và thường nhắc đi nhắc lại, “Ngày hôm nay thiên đường vậy sao!”. Sau một vài phút tôi cảm thấy tốt hơn, và nhận ra tôi đang đói. Tôi nói với Marie, nhưng nàng chẳng quan tâm. Nàng đang mang một chiếc túi chứa đồ bơi trong đó nàng chất bộ đồ tắm và một chiếc khăn tắm. Lúc này chúng tôi nghe tiếng Raymond đóng cửa phòng. Anh ta mặc một chiếc quần màu xanh trứng sáo, một chiếc áo sơ mi trắng ngắn tay, và một chiếc mũ rơm. Tôi thấy tay anh ta khá nhiều lông, nhưng làn da phía dưới thì rất trắng. Anh ta dường như tinh thần rất thoải mái và đang huýt sáo khi bước xuống cầu thang bộ. Anh ta chào tôi, “chào cậu bé già!” và gọi Marie là “Quý cô”.

Đêm trước chúng tôi tới sở cảnh sát, nơi tôi làm chứng giúp Raymond – về việc cô gái đã đổ lỗi cho anh ta. Vì thế họ để anh ta đi mà không cảnh báo gì. Họ không kiểm chứng những lời tôi nói.

Sau khi nói chuyện vài câu trên bậc thềm chúng tôi quyết định bắt xe buýt. Bãi biển nhìn từ xa dễ dàng tìm lối đi bên trong, chúng tôi dấn nhanh là sẽ tới.  Chỉ khi chúng tôi bắt đầu tại trạm dừng xe buýt, Raymond giật ống tay áo tôi và bảo tôi nhìn ra phố. Tôi nhìn thấy một vài người A rập dựa lưng vào cửa sổ của cửa hàng thuốc lá. Họ đang nhìn trừng trừng vào chúng tôi, yên lặng, theo cách đặc biệt mà lũ người này biểu hiện – như chúng tôi là đá tảng hay cây khô. Raymond thì thầm rằng tên A rập thứ hai phía  bên trái là “gã đàn ông của anh ta”, và tôi nghĩ Raymond khá lo lắng. Tuy nhiên, tất cả là chuyện cũ rồi. Marie, không biết anh ta nói gì, hỏi tôi, “Chuyện gì vậy?”.

Tôi giải thích rằng những người A rập kia đang có vài chuyện thắc mắc với Raymond. Nàng khăng khăng chúng ta phải đi ngay. Sau đó Raymond phá lên cười, và dựng vai. Quý cô trẻ hoàn toàn đúng, anh ta nói. Chả có chuyện gì sất ở đây. Nửa đoạn nữa tới trạm dừng xe buýt anh ta liếc qua vai về phía sau và nói những người A rập đã không theo dõi nữa. Tôi, cũng, quay lại. Họ vẫn y ở chỗ cũ như trước, nhìn theo cách mơ hồ giống vậy nơi mà chúng tôi bước qua.

Khi chúng tôi bước lên xe buýt, Raymond, lúc này dường như đã hoàn toàn thoải mái, đã đùa cợt trêu chọc Marie. Tôi có thể nhìn thấy anh ta bị nàng thu hút, nhưng nàng hiếm lắm mới nói một lời. Thỉnh thoảng nàng đưa mắt về phía tôi và mỉm cười.

Chúng tôi vừa chạm Algiers. Bãi biển không xa trạm xe buýt lắm; chỉ có một ngã tư xuyên qua vùng đất cao, kiểu đất bình nguyên, có thể nhìn xa ra biển và bờ dốc xuống phía bãi cát. Mặt đất ở đây được bao bọc bởi đá cuội vàng và huệ trắng khoe màu trắng-tuyết chọi lại xanh của trời, gần như ánh sáng cứng cỏi, nặng chỉ có được trong những ngày rất nóng. Marie tự đùa vui bằng lẳng chiếc túi nàng đeo tới những bông hoa và rải cánh hoa trên khắp lối. Sau đó chúng tôi đi dạo giữa hai hàng nhà nhỏ có những chiếc ban-công bằng gỗ, tường trắng hoặc xanh lá. Nhiều căn nhà bị che khuất một nửa bởi cụm cây thánh liễu; những cái khác lại trơ trọi giữa bình nguyên đá. Trước khi chúng tôi đến nơi, biển trong tầm nhìn; biển lặng như một tấm gương soi, và trông từ xa giống ảnh của đất đen một vùng phản chiếu. Mặc dầu không vẫn còn lẫn tiếng động cơ xe máy và chúng tôi nhìn thấy một chiếc thuyền đánh cá phía xa, dần dần hiện ra từ đám mượt mà quyến rũ.

Marie ngắt vài bông diên vĩ đá. Xuống lối đường dốc dẫn ra biển, chúng tôi đã nhìn thấy một vài người tắm đứng trên bãi cát.

Bạn của Raymond sở hữu một căn nhà bằng gỗ nhỏ gần cuối bãi biển. Lưng nhà tựa vào vách đá, trong khi phía trước chồng lên, mép nước sát gần. Raymond giới thiệu chúng tôi với bạn anh ta, tên  chồng là Masson. Anh ấy cao, vai nhỏ, mình dày; vợ anh ấy là một người phụ nữ nhỏ bé vui vẻ, đẫy đà nói giọng Paris.

Masson nhanh nhẩu bảo chúng tôi hãy coi như nhà của mình. Anh ấy ra ngoài câu cá, anh ấy bảo, điều đầu tiên vào buổi sáng, và sẽ là món cá nướng cho bữa trưa. Tôi chúc mừng anh ấy về căn nhà nhỏ của anh ấy, và anh ta nói lúc nào cũng nghỉ cuối tuần và mọi kì nghỉ ở đây. “Với vợ tôi đây, chẳng phải nói nhiều”, anh ấy chào. Tôi liếc nhìn cô ấy, và nhận ra cô ấy cùng Marie đã như quen thân với nhau; cùng cười to cùng trò chuyện xa dần. Với lần đầu tiên, có lẽ, tôi thực sự nghiêm túc nghĩ đến khả năng cưới nàng.

Masson muốn đi bơi ngay lập tức, nhưng vợ anh ấy và Raymond chưa sẵn sàng đi. Chỉ có ba chúng tôi, Marie, Masson, và tôi, xuống biển. Marie nhanh chóng ngập mình xuống nước, nhưng Masson và tôi chờ một chút. Anh ấy rề rà nói chuyện và tôi nhận ra thói quen nói “và cái gì nữa nhỉ” giữa những câu nói của anh ấy – thậm chí khi câu thứ hai không thực sự tiếp nối câu đầu. Nói về Marie, anh ấy bảo: “Cô nàng là một cô gái xinh xắn khủng khiếp, và gì nữa nhỉ, quyến rũ”.

Nhưng tôi nhanh chóng ngừng chú ý tới mẹo vặt của anh ấy; tôi đang đắm mình trong ánh mặt trời, ở đây, tôi thấy, đang khiến tôi cảm giác tốt hơn nhiều. Cát đang bắt đầu nóng dần dưới lòng bàn chân và, tôi mong muốn ngâm mình xuống, tôi dừng thêm một hay hai phút. Cuối cùng tôi nói với Masson: “Chúng ta xuống nước thôi chứ?” và ngập người. Masson bước cẩn trọng và chỉ bắt đầu bơi khi nước quá đầu. Anh ấy bơi tay tiếp tay và lắc đầu chậm rãi, vì thế tôi bỏ anh ấy phía sau và bắt kịp Marie. Nước lạnh và tôi cảm thấy tất cả tốt hơn vì điều này. Chúng tôi bơi một khoảng xa, Marie và tôi, vai sát vai, và cảm giác vui vẻ mỗi cử động của chúng tôi hòa hợp thế nào, cơ thể cô ấy và cơ thể tôi, cả hai chúng tôi cùng một tâm trạng, hưởng thụ mọi khoảnh khắc.

Lúc chúng tôi nghỉ, chúng tôi nằm ngửa, tôi liếc lên bầu trời, tôi có thể cảm nhận được mặt trời vẽ lên một bộ phim của nước muối trên môi và má tôi. Chúng tôi nhìn thấy Masson bơi trở lại bờ và vùi mình xuống cát dưới mặt trời. Nhìn từ xa, anh ấy trông to bé, giống như một con cá voi khổng lồ. Sau đó Marie đề nghị chúng tôi nên bơi đôi. Nàng bơi trước và tôi vòng tay quanh eo nàng, từ phía sau, và trong lúc nàng kéo tôi về trước bằng tay sải, tôi sẽ đẩy nhẹ phía sau để trợ sức cho cả hai.

Tiếng động khỏa nước bên tai tôi lâu tới mức tôi cảm thấy tôi đã bơi đủ rồi. Vì vậy tôi để Marie và bơi ngược lại dễ dàng hơn, nhịp thở sâu và dai hơn. Khi tôi chạm bờ tôi ấn bụng mình sấp xuống cạnh Masson, để mặt nghỉ ngơi úp xuống cát. Tôi nói anh ấy “thật tuyệt” ở đây, và anh ấy đồng ý. Lúc này Marie trở lại. Tôi nhấc đầu mình lên để nhìn nàng tiến lại gần. Người nàng lấp lánh nước biển và nàng vuốt tóc ra phía sau. Rồi nàng nằm xuống bên cạnh tôi, và cùng kết hợp sức nóng của cơ thể hai chúng tôi và mặt trời, tôi thấy tự mình rơi vào cơn buồn ngủ.

Lát sau Marie ngoắc tay tôi và nói Masson đã trở lại nhà; chắc là đã gần tới bữa trưa. Tôi bật dậy ngay, khi cảm giác tôi đang đói, nhưng Marie nói với, tôi chưa hôn nàng một lần từ sáng sớm. Có vậy hả – tôi muốn chứ, và hôn vài lần. “Chúng ta trở lại nước lần nữa đi”, nàng nói, và chúng tôi chạy xuống biển và nằm nổi dập dềnh cùng những ngọn sóng nhỏ một lát. Sau đó chúng tôi bơi sải một chút, và chúng tôi chìm lút đầu, nàng choàng cả người dùng hai tay ôm tôi. Tôi cảm giác hai chân nàng mơn trớn tôi, và mọi cảm nhận trên làn da.

Khi chúng tôi trở lại, Masson đang ở bậc thềm của nhà, quát gọi chúng tôi. Tôi bảo anh ấy tôi đói mềm rồi, anh ấy quay về phía vợ và nói anh ấy đã hoàn toàn chuẩn bị cho tôi. Bánh mì thật ngon, tôi còn được chia suất cá đầy. Tiếp đó là món bít-tết bò và khoai tây rán. Không ai trong chúng tôi nói khi ăn. Masson uống nhiều rượu vang và liên tục đổ đầy cốc của tôi mỗi khi cạn. Đúng giờ cà phê được đem đến tôi đang cảm thấy ngà ngà say, và tôi bắt đầu hút hết điếu này sang điếu khác. Masson, Raymond, và tôi bàn thảo một kế hoạch sẽ dành cả tháng Tám trên bờ biển cùng nhau, có chia sẻ tài chính.

Bỗng nhiên Marie thốt lên: “Em nói là, anh biết thời gian chứ? Mới chỉ đến mười một rưỡi!”.

Tất cả chúng tôi ngạc nhiên về điều ấy, và Masson ghi nhận chúng tôi đã ăn bữa trưa quá sớm, nhưng thực sự bữa trưa là một bữa tiệc cơ động, bạn ăn khi cảm thấy đói.

Điều này làm Marie cười phá, tôi không hiểu tại sao. Tôi ngờ nàng say xỉn rồi.

Sau đấy Mason hỏi tôi muốn đi cùng anh ấy làm một chuyến dạo biển.

“Vợ tôi luôn luôn ngủ trưa sau bữa ăn”, anh ấy bảo. “Cá nhân tôi lại khác; cái tôi cần là một bữa tản bộ ngắn. Tôi thường bảo với vợ điều này tốt cho sức khỏe hơn. Nhưng, tất nhiên, cô ấy giữa ý kiến riêng của cô ấy”.

Marie đề nghị nghỉ và giúp dọn dẹp. Vợ của Masson mỉm cười và đáp, trong trường hợp này, điều đầu tiên là để đàn ông đi theo con đường của họ. Bởi chúng ta có con đường của riêng ta, ba chúng ta.

Ánh sáng hầu như chiếu thẳng đứng và tia nắng từ mặt nước hất vào mắt từng người. Bãi biển hoàn toàn vắng người lúc này. Chỉ còn nghe tiếng lách cách dao dĩa và đĩa từ quán ăn và căn nhà quanh bờ biển. Khí nóng phả ra từ những vách đá và làm không khí thật khó thở.

Đầu tiên Raymond và Masson nói về vài điều và vài con người mà tôi không rõ.Tôi hiểu họ đã quen nhau vài lần và thậm chí sống cùng nhau. Chúng tôi đi tới mép nước và đi bộ dọc nó; thỉnh thoảng sóng chờm lên làm ướt giày vải bạt của chúng tôi. Tôi đã không nghĩ gì, khi tất cả ánh sáng mặt trời rọi thẳng xuống đầu trần của tôi, tôi thấy mình nửa mơ màng buồn ngủ.

Chỉ khi Raymond nói điều gì đó với Masson mà tôi hoàn toàn không nắm được. Nhưng cùng khoảnh khắc ấy tôi nhận ra hai người A rập mặc chiếc áo liền quần màu xanh đi xuống bãi biển, đi cùng hướng với chúng tôi. Tôi nhìn về phía Raymond và anh ta gật đầu, nói, “Đúng là hắn ta đấy”. Chúng tôi dạo những bước chân đều đặn, chắc chắn. Masson băn khoăn không hiểu sao lũ người đó lại có thể theo dõi chúng tôi tới tận đây. Ấn tượng của tôi là họ đã nhìn thấy chúng tôi từ trên xe buýt và nhận ra chiếc túi chống nước của Marie; nhưng tôi đã không nói gì.

Mặc dầu lũ người A rập đi rất chậm chạp, chúng càng ngày càng gần hơn. Chúng tôi không thay đổi bước chân của mình, nhưng Raymond nói:

“Nghe này! Nếu xảy ra đánh nhau, cậu, Masson, chú ý thằng thứ hai. Tớ sẽ giải quyết thằng bạn ngay phía sau tớ. Và cậu, Meursault, đứng đây yểm trợ nếu như có ai đó tiến lên, và hạ thẳng nó xuống”.

Tôi đáp: “Được thôi”, và Masson thọc hai tay vào trong túi.

Cát nóng như lửa, và tôi có thể cảm nhận được nó dần dần đỏ lên. Khoảng cách giữa bọn tôi và lũ người A rập ngày một giảm dần. Khi chúng tôi chỉ còn cách lũ người A rập vài bước cứng. Masson và tôi chầm chậm cúi, trong khi Raymond vẫn đứng thẳng. Tôi không thể nghe anh ta nói gì, nhưng tôi nhìn thấy anh ta cúi đầu và tránh cú tọng vào má. Raymond tung cú đá và quát gọi Masson tới. Masson đến bên người đàn ông mà anh ta vừa chỉ và đập thằng cha đó với hai lần liền bằng toàn bộ sức mạnh của anh ấy. Hắn rơi ngang xuống nước và nằm đó trong vài giây cùng với bong bóng nổi trên bề mặt xung quanh đầu. Trong khi Raymond thì mải tấn công gã đàn ông khác, tên này mặt cũng đầy máu. Anh ta liếc nhìn tôi qua vai và gào lên:

“Cậu chú ý! Tớ chưa hạ xong thằng này đâu!”.

“Cẩn thận!”, tôi gào lên, “Nó có dao”.

Tôi nói quá muộn. Gã đã rạch một đường lên cánh tay cũng như miệng của Raymond.

Masson nhảy chồm lên phía trước. Tên A rập khác bò từ nước lên và thế tên đồng bọn đang cầm dao. Chúng tôi đã không dám chuyển động. Hai tên yểm trợ phía sau cũng từ từ lùi xa, để chúng tôi ở lại vịnh cùng con dao và không dám rời mắt khỏi chúng tôi. Khi chúng đã đủ xa một khoảng cách an toàn chúng nhón chân và vọt nhanh. Chúng tôi vẫn đứng đó chết lặng, với ánh mặt trời chói thẳng xuống chúng tôi. Máu đang rỏ từng giọt từ cánh tay bị thương của Raymond, anh ta đang khó khăn để quặp cùi trỏ lại.

Masson cho biết có một bác sĩ anh ta thường có mặt hàng Chủ nhật ở đây, và Raymond nói: “Tốt. Để chúng ta cùng gặp ông ta ngay”. Anh ta khó lắm mới cất lên lời, và máu từ những vết thương khác cũng đang nổi bọt lên quanh miệng.

Từng người trong chúng tôi dìu tay anh ta và giúp anh ta trở lại ngôi nhà. Khi chúng tôi đã ở đó anh ta nói chúng tôi vết thương cũng không quá sâu và anh ta có thể tự mình đi bộ tới gặp bác sĩ. Marie hoàn toàn trông tái dại, và vợ Masson thì đang ngập nước mắt.

Masson và Raymond cùng đi tới nhà bác sĩ trong khi tôi ở lại phía sau tại căn nhà để giải thích vấn đề cho những người phụ nữ. Tôi chẳng thích nhiệm vụ tí nào và ngay chóng lau khô và bắt đầu rít thuốc, nhìn đăm đăm về phía biển.

Raymond trở lại nhà sau nửa giờ, cùng với Masson. Cánh tay anh ta đã băng bó và một miếng băng dán ngay góc miệng. Bác sĩ khẳng định anh ta không bị thương nghiêm trọng, nhưng trông anh ta xám ngoét. Masson cố gắng chọc anh ta cười, nhưng không nổi.

Hiện tại Raymond nói anh ta muốn đi dạo dọc biển. Tôi hỏi anh ta muốn đi đâu, anh ta lầm bầm “muốn hít thở không khí”. Chúng tôi- Masson và tôi- sau đó bảo chúng tôi đi cùng anh ta, nhưng anh ta trở nên giận dữ và bảo chúng tôi đi làm công việc của chúng tôi đi. Masson nói chúng không phải năn nỉ, xem tình trạng của anh ta kìa. Tuy nhiên, khi anh ta ra ngoài, tôi đi theo.

Bên ngoài rất nóng, ánh sáng mặt trời tóe ra thành những bông lửa trên cát và trên mặt biển. Chúng tôi đi bộ một lát, và tôi có một ý tưởng hỏi Raymond thực sự muốn đi đâu; nhưng có lẽ tôi đã mắc sai lầm.

Cuối bãi chúng tôi gặp một dòng suối nhỏ cắt ngang một con kênh trên mặt cát, sau khi chui ra từ phía sau của một tảng đá lớn. Chúng tôi tìm thấy hai tên A rập một lần nữa, đang nằm trên cát với bộ quần áo liền quần màu xanh. Chúng hoàn toàn không đáng ngại, thậm chí cũng không thấy đe dọa chút ghê gớm nào, và cả hai chúng đều không cử động khi chúng tôi tiến tới. Gã đàn ông đã tấn công Raymond nhìn trừng trừng vào anh ta mà không nói gì. Gã kia huýt sáo một điệu nhạc chỉ gồm có ba nốt và gã ta cứ huýt đi huýt lại, trong khi gã theo dõi chúng tôi bằng nửa con mắt.

Một giây không ai cử động; trời vẫn cứ nắng và lặng im trừ tiếng nước suối reo và ba nốt nhạc đơn lẻ nhảy nhót. Sau đó Raymond đút tay vào túi quần chạm vào khẩu súng ngắn ổ xoay, nhưng lũ người A rập vẫn chưa tiến. Tôi nhận ra gã đàn ông huýt nhạc có hai ngón chân cái to đùng hầu như ngoạc hẳn ra so với bàn chân.

Vẫn để mắt tới gã đàn ông của mình, Raymond nói với tôi: “Tớ có nên cho hắn phát đạn?”.

Tôi nghĩ nhanh. Nếu như tôi bảo với anh ta đừng, so với tình trạng mà anh ta đang gặp phải, anh ta có lẽ sẽ rơi vào trạng thái tinh thần và bắt đầu sử dụng súng. Bởi thế tôi nói điều đầu tiên xuất hiện trong đầu tôi.

“Nó chưa nói gì với cậu cả. Thật thất sách khi bắn nó trong lúc này, lạnh lùng quá”.

Lần nữa, trong một vài khoảnh khắc không ai nghe thấy tiếng gì ngoài tiếng nước suối và nhạc huýt sáo đan cài trong không khí nóng nực, đình trệ.

“Ồ”, Raymond cuối cùng nói, “đó là cậu thấy vậy, tốt hơn là tớ nói về kết quả nhé, và nếu nó trả lời tớ sẽ nhấn cò”.

“Được”, tôi đáp. “Nếu nó không buông dao ra thì cậu có việc phải nổ súng đâu”.

Raymond bắt đầu tiến bước. Gã A rập đang huýt sáo tiếp tục bập môi, và cả gã đều dõi theo những chuyển động của tất cả chúng tôi.

“Nghe này”, tôi nói với Raymond. “Cậu chiến thằng bên phải, và đưa tớ khẩu súng của cậu. Nếu thằng kia giở trò hoặc rút dao, tớ sẽ bắn”.

Mặt trời lóe lên khẩu súng ngắn của Raymond lúc anh ta đưa nó vào tay tôi. Nhưng chưa gã nào cử động cả; mọi thứ chờ cả vào chúng tôi và chúng tôi cũng không thể cử động. Chúng tôi chỉ có thể dõi theo nhau, không rời mắt; thế giới dường như tất cả trở nên đông cứng trên dải cát bé nhỏ này giữa ánh nắng mặt trời và biển cả, hai bờ im lặng giữa tiếng huýt sáo và tiếng suối reo. Rồi lóe lên trong đầu tôi có lẽ nhấn cò, có lẽ không  – điều này hầu như đến cùng một lúc.

Sau đấy, tất cả thật đột ngột, lũ người A rập biến mất; chúng trượt đi giống như lũ tắc kè dưới sâu vách đá. Vì vậy Raymond và tôi quay về và đi bộ ngược trở lại. Anh ta dường như vui vẻ hơn, và bắt đầu nói chuyện về chuyến xe buýt chúng tôi sẽ bắt để trở về.

Khi chúng tôi về tới căn nhà Raymond đi lên bằng bậc thang gỗ, nhưng tôi vẫn dừng lại ở bậc cuối cùng. Ánh chớp dường như chạy qua đầu tôi và tôi không thể nào cố gắng thêm để bước lên từng bậc cầu thang, tôi yếu mềm như những người phụ nữ. Nhưng sức nóng tuyệt diệu tới mức điều tồi tệ chỉ dừng lại đúng chỗ tôi đang đứng, dưới ánh sáng từ phía bầu trời đang rỏ xuống. Ở đây, hay chuyển động – điều nào cũng đúng cả. Sau một khoảnh khắc tôi trở lại bãi biển, và bắt đầu thả bộ.

Xuất hiện một luồng đỏ giống mà mắt có thể chạm tới, những lọn sóng nhỏ liếm trên cát nóng từng chút một, dập dềnh ồn ã. Lúc tôi bước chầm chậm tới vách đá lớn phía cuối bãi biển tôi có thể cảm thấy thái dương tôi phồng lên dưới ảnh hưởng của ánh nắng. Nó ảnh hưởng trực tiếp tới tôi, cố gắng để kiểm soát tiến trình của mình. Và mỗi khi tôi cảm thấy có một cú nóng mạnh trực diện vào trán, tôi nghiến răng, nắm chặt nắm tay mình trong túi quần và kìm nén mọi nơ-ron dịu lại mặt trời và bóng tối xoa dịu trùm lấp tôi. Mỗi khi một lưỡi dao ánh sáng chói lọi trùm lên vỏ ốc hay những mảnh kính vỡ trên mặt cát, hai hàm tôi cứng lại. Tôi không thể nào bị đánh bại, tôi thả những bước chân chắc nịch trên đường.

Một hòn đá tảng đen nhỏ dọc lối đi trên bãi biển. Nó bị chặn lại bởi ánh sáng lấp lánh và tia ánh lông thú, nhưng tôi đang nghĩ về dòng nước suối sạch, mát lạnh phía sau, và đắm chìm một lần nữa lắng nghe tiếng nước chảy. Mọi thứ thoát khỏi ánh nhìn, những người phụ nữ đang đầm đìa nước mắt, cố gắng và vượt cạn – và để trở lại bể bóng râm của vách đá và sự im lặng mát rượi của nó!

Nhưng khi đến gần hơn tôi thấy lũ người A rập của Raymond đã trở lại. Chỉ có một mình hắn lúc này, nằm ngửa, và hắn gối đầu trên tay, gương mặt được che mát bằng tảng đá trong khi mặt trời chiếu thẳng vào toàn bộ cơ thể gã. Có thể nhìn thấy bộ quần áo liền quần của gã đã phập phồng dưới cái nóng. Tôi hơi lùi lại; ấn tượng của tôi có thể là một bằng chứng tôi quá gần hắn, và tôi thậm chí không có một ý nghĩ nào tôi đang ở đâu.

Nhìn thấy tôi, gã A rập nhấc người lên một chút, rút tay ra khỏi túi quần. Rất tự nhiên, tôi rút khẩu súng ngắn của Raymond trong túi áo khoác của tôi. Sau đó gã A rập ngâm mình trở lại, tay đút trong túi quần. Tôi vẫn còn cách một quãng, ít nhất đến mười bộ, hầu như mọi lúc tôi nhìn thấy gã ta giống như một bóng tối phủ mờ phập phồng trong tia sáng nóng. Thỉnh thoảng, tuy nhiên, tôi liếc mắt về phía gã nơi đã nheo nheo nửa nhắm nửa mở. Tiếng sóng thậm chí nghe lười biếng hơn, rộn hơn vào đúng ngọ. Nhưng ánh sáng đã không thay đổi; nó đang ngập tràn hoang dại khắp, trải dài dọc cát và kết thúc ở những vỉa đá. Trong hai giờ đồng hồ mặt trời dường như không biến đổi; bình tĩnh trên biển của phẳng thép hòa tan. Xa phía chân trời một cụm mây vừa trôi; tôi có thể tạo ra một miếng băng đen đang di chuyển nhỏ bé bên mắt, trong khi tôi vẫn tập trung theo dõi gã A rập.

Thời tiết bẫy tôi và tất cả tôi phải làm là quay về, bước đi thôi, và đừng nghĩ về nó nữa. Nhưng toàn bộ bãi biển, nóng ngập tràn, nó đang rải trên lưng tôi. Tôi bước thêm vài bước về phía dòng suối. Gã A rập không cử động. Sau tất cả, vẫn còn một khoảng cách giữa hai chúng tôi. Có lẽ bởi vì bóng tối của gương mặt gã, gã dường như đang lẩm nhẩm gì đó với tôi.

Tôi chờ đợi. Sức nóng bắt đầu rọi vào hai má tôi; giọt mồ hôi tập trung vào phía lông mày tôi. Giống hệt như kiểu sức nóng tại đám tang của mẹ, và tôi có một tinh thần bất đồng ý kiến tương tự – đặc biệt trên trán tôi, nơi tất cả những mạch máu dường như đang tập trung dưới làn da. Tôi không thể nào đứng được thêm nữa, cần phải bước lên phía trước. Tôi biết đó là một điều ngốc nghếch; tôi không thể nào thoát khỏi mặt trời bằng việc bước đi một hay hai bộ. Nhưng tôi đã bước bước chân chân, chỉ đúng một bước, lên phía trước. Và sau đó gã A rập rút dao và giơ nó trước mặt tôi, xuyên qua ánh sáng mặt trời.

Một tia sáng lóe lên từ ánh thép, và tôi cảm thấy lưỡi dao nhỏ dài đó dường như đã đâm thẳng vào đầu tôi. Cùng lúc tất cả mồ hôi chụm trên lông mày tôi tràn xuống mi mắt, bọc chúng bằng tất cả loạt sương mù ấm. Dưới tấm màn đó cộng với nước mắt khiến tôi như bị mù; tôi chỉ tỉnh táo bởi tiếng xanh-ban của mặt trời đang gõ vào sọ não tôi, và , ít phân biệt hơn, lưới sáng lóe đó từ con dao, tạo sẹo trên mi mắt tôi, và chọc thẳng vào đồng tử tôi.

Mọi thứ bắt đầu hoa trước mắt tôi, sức nóng khủng khiếp dồn lên từ biển, trong khi bầu trời bị xé ra làm hai, cuối đến kết thúc, và một tấm chăn tuyệt vời cũng trùm xuống xé đôi. Mọi dây thần kinh trong cơ thể tôi đang đóng cứng lại, tôi nhấn cò khẩu súng ngắn. Viên đạn bắn ra, vết ngọt dưới bụng nảy ra từ lòng bàn tay của tôi. Và bởi thế, tiếng động tách của cú bắn giống như tiếng của miếng khoai tây rán, mọi thứ bắt đầu. Tôi vẩy hết mồ hoi và bám vào tấm màn của ánh sáng. Tôi biết tôi đã phá hủy cân bằng của ngày, bình tĩnh không gian của bãi biển này nơi tôi đã và đang vô cùng hạnh phúc. Nhưng tôi bắn thêm bốn phát nữa vào cơ thể đã chết, trên đó chúng không để lại bất cứ dấu vết hình hài nào. Và từng cú bắn thành công và một tiếng động khác, nhịp rap định mệnh trên cánh cửa xuống dốc của tôi.

(Hết chương VI, phần I)

(Còn nữa)

(*) Đọc Camus đòi hỏi một sự kiên nhẫn, bình tâm. Chuyển ngữ Camus cần phải kiên nhẫn, bình tâm, suy xét gấp hai, gấp nhiều lần. Bản thân tôi không phải là người kiên nhẫn cho lắm, nhưng đọc tới Camus, “gặp” được Camus như một sự vinh hạnh. Và tôi cảm thấy kiên tâm hơn khi bắt đầu chuyển ngữ từng dòng của ông sang tiếng Việt. Xin các bậc cao nhân về Camus chỉ giáo để thực sự hiểu rõ hơn về Camus.

 

 

Người lạ (tiếp theo 15)

Albert-Camus-012

Albert Camus trong một lần tới nói chuyện ở London, Anh. Nguồn ảnh: The Guardian.co.uk

NGƯỜI LẠ

Albert Camus

Dựa theo bản dịch tiếng Anh từ tiếng Pháp của Stuart Gilbert (N.H.T chuyển ngữ/Phần 1/Tiếp)

>> Phần trước

V

RAYMOND gọi điện tới văn phòng tôi. Anh ta nói một người bạn của anh ta – người mà anh ta kể về tôi – mời tôi dành chủ nhật tới tại căn nhà nhỏ bé bên bờ biển của anh ta ngay bên cạnh Algiers. Tôi nói với anh ta tôi lấy làm vui mừng; chỉ là tôi đã hứa dành ngày chủ nhật cho một cô bạn. Raymond ngay lập tức đáp lại, cô gái cũng có thể tới. Thực tế, vợ của anh bạn của anh ta rất vui mừng nếu như cô ấy không phải là người phụ nữ duy nhất trong bữa tiệc của đàn ông.

Tôi muốn dập máy ngay, bởi ông chủ tôi không đồng ý việc tôi sử dụng điện thoại của văn phòng cho những cuộc gọi cá nhân. Nhưng Raymond yêu cầu tôi giữ máy; anh ta có vài điều nữa nói với tôi, và đó là lí do tại sao anh ta gọi điện thoại tới cho tôi, vì anh ta có thể chờ cho tới đêm để chuyển lời mời.

“Chuyện là thế này”, anh ta nói, “tôi đã bị một số tên người A rập theo dõi suốt buổi sáng. Một trong số chúng là anh trai của cô gái mà tôi đang có quan hệ. Nếu cậu nhìn thấy thằng cha đó quanh ngôi nhà lúc cậu về, báo tớ biết nhé”.

Tôi hứa làm vậy.

Đúng lúc ấy ông chủ bước tới chỗ tôi. Khoảnh khắc ấy tôi cảm thấy khó chịu, bởi tôi nghĩ ông ấy đang muốn nói với tôi về trì trệ công việc và đừng có tốn thời gian chát chít với bạn bè qua điện thoại. Tuy nhiên, tịnh không phải vậy. Ông ấy muốn bàn với tôi một dự án tổng thể, việc ông ấy chưa thể có một quyết định nào. Việc mở một chi nhánh tại Paris, để có thể hợp tác làm ăn với các công ty lớn đang trong dự án, mà không bị lỗi đường bưu điện, và ông ấy cũng muốn tôi biết rằng tôi cần phải cắm chốt ở đó.

“Cậu là một người đàn ông trẻ”, ông ấy nói, “và tôi đoan chắc cậu thích thú sống ở Paris. Và, dĩ nhiên, cậu có thể du lịch quanh nước Pháp độ vài tháng trong năm”.

Tôi đáp lời ông tôi hoàn toàn chuẩn bị để tới; nhưng thực sự tôi chưa quan tâm kiểu này hay kiểu nọ.

Ông sau đó hỏi tôi nếu một “sự thay đổi của cuộc đời”, như ông gọi, đã không xảy đến với tôi, và tôi đáp một điều chưa bao giờ thay đổi cách sống của ông; một cuộc đời này cũng tốt như một cuộc đời khác, và cuộc sống hiện giờ của tôi hoàn toàn phù hợp với tôi.

Về điều này trông ông chủ có vẻ đau đớn, và ông bảo tôi là kẻ lưỡng lự, và rằng tôi thiếu tham vọng – một sản phẩm lỗi, trong tâm trí ông, tôi phải là một doanh nhân.

Tôi quay lại công việc của mình. Tôi thích không bực bội với ông ấy thì hơn, nhưng tôi trông thấy không có lí do nào “thay đổi cuộc đời tôi”. Nghĩa rộng hay hẹp thì đều không phải là vui vẻ gì. Lúc còn là sinh viên tôi có rất nhiều tham vọng kiểu như ông ấy đề cập. Nhưng, khi tôi không còn đi học nữa, tôi đã rất sớm nhận ra tất cả chỉ là vô phương thành đạt.

Marie đến tối đó và hỏi tôi có thể lấy nàng. Tôi nói tôi chưa nghĩ tới; nếu nàng thực mong muốn, chúng tôi kết hôn.

Rồi nàng hỏi tôi lần nữa tôi có yêu nàng. Tôi đáp, nhiều hơn trước, vậy câu hỏi của nàng không có nghĩa gì hay tiếp đây là không còn gì – nhưng chả bận tâm.

“Vậy anh thấy thế nào”, nàng hỏi, “tại sao cưới em?”.

Tôi giải thích không có điều gì thực sự quan trọng, nhưng, để đem lại cho nàng sự mừng vui, chúng ta có thể cưới ngay tắp lự. Tôi chỉ ra rằng, dầu thế nào, mọi đề nghị đến từ nàng; với tôi, chỉ đơn thuần trả lời, “đồng ý”.

Nàng khẳng định hôn nhân là một vấn đề nghiêm túc.

Với điều này tôi trả lời: “không”.

Nàng giữ im lặng sau đó, nhìn tôi chằm chằm đầy nghi ngờ. Rồi nàng hỏi:

“Giả sử một cô gái khác hỏi anh cưới cô ta – ý em là, một cô gái anh thích như kiểu anh đã thích em – anh cũng sẽ nói “đồng ý” đối với cô ta chứ?”.

“Hiển nhiên”.

Nàng bảo nàng băn khoăn liệu nàng có thực sự  yêu tôi hay không. Tôi, tất nhiên, không thể nào khiến nàng vui như kiểu đó. Lại tiếp nối im lặng, nàng lúng búng điều gì đó gọi tôi là “anh chàng kì quặc”. “Em dám nói đó là tại sao em yêu anh”, nàng nói thêm, “nhưng có lẽ đó cũng là tại sao một ngày em sẽ trở nên căm thù anh”.

Với chuyện này tôi chẳng có gì để nói, vì thế tôi không nói gì.

Nàng nghĩ thêm một lát, rồi bắt đầu mỉm cười, túm lấy tay tôi, nhắc lại rằng nàng thực sự nghiêm túc; nàng thực lòng muốn cưới tôi.

“Được thôi”, tôi trả lời. “Chúng ta sẽ cưới nhau bất cứ khi nào em muốn”. Sau đó tôi đề cập tới lời đề nghị của ông chủ tôi, và Marie bảo nàng thích được tới Paris.

Tôi kể với Marie tôi đã sống ở Paris một thời gian rồi, nàng hỏi tôi trông nó thế nào.

“Một kiểu thị trấn bẩn thỉu tối tăm, trong tâm trí anh. Nhiều nhiều lắm chim bồ câu và sân vườn tối mịt. Và con người có những gương mặt trắng, sạch sẽ”.

Chúng tôi đi dạo trên con đường xuyên qua thị trấn kéo tới những phố chính. Phụ nữ trông ưa nhìn, và tôi hỏi Marie, nàng, có nhận ra điều đó. Nàng đáp, “có” và nàng nhìn thấy những gì tôi muốn nói tới. Sau đó chúng tôi không nói gì trong vài phút. Tuy nhiên, khi tôi không muốn nàng rời bỏ tôi, tôi đề nghị chúng tôi nên ăn tối cùng nhau tại hàng ăn của Céleste. Nàng muốn đi ăn tối với tôi, nàng nói, chỉ là nàng đã chuẩn bị bữa tối rồi. Chúng tôi về gần nơi ở, và tôi nói,  “Au revoir”.

Nàng nhìn vào mắt tôi.

“Anh không muốn biết em đang làm gì buổi tối nay ư?”.

Tôi muốn biết chứ, nhưng tôi đã không nghĩ việc phải hỏi nàng, và tôi đoán nàng đang tạo ra một niềm đau khổ về nó. Tôi phải tỏ vẻ xấu hổ, bỗng chợt nàng bắt đầu phá lên cười và dựa vào tôi, ấn lưỡi của nàng dí một nụ hôn.

Tôi tới nhà hàng Céleste’s một mình. Khi tôi bắt đầu bữa tối một người phụ nữ nhỏ bé trông-dị biệt bước vào và hỏi cô ả có thể ngồi cùng bàn tôi. Tất nhiên cô ả được phép. Ả có một gương mặt phúng phính giống như một trái táo chín, mắt sáng, và di chuyển theo một cách giật cục gây tò mò, như kiểu cô ả bị giật dây. Sau khi cởi bỏ áo khoác treo lên mắc cô ả ngồi xuống và bắt đầu nghiên cứu bảng giá tiền đầy kĩ lưỡng. Sau đó cô ả gọi Céleste và gọi món, rất nhanh theo một kiểu hoàn toàn khác biệt; không thiếu không thừa một từ nào. Trong khi chờ món khai vị, cô ả mở túi, rút ra một mẩu giấy và bút chì, rồi cộng tổng tất cả hóa đơn. Nhét mọi thứ trở lại túi, cô ả mở ví và lấy chính xác tổng tiền, thêm chút tiền boa nhỏ mọn, và đặt cả trên tấm vải lót trước mặt ả.

Chỉ sau khi người bồi bàn mang đồ khai vị, cô ả trông như một con sói đói rình mồi. Trong khi chờ món tiếp theo, ả rút ra chiếc bút chì khác, lúc này là màu xanh, từ túi xách, và tờ tạp chí phát thanh cho tuần tới, và bắt đầu đánh dấu vào hầu hết toàn bộ đề mục chương trình hàng ngày. Có chừng hơn chục trang trong tờ tạp chí, và ả tiếp tục nghiên cứu chúng say mê suốt cả bữa ăn. Khi tôi ăn xong ả vẫn còn tiếp tục đánh dấu vào các mục với sự chú ý tới từng chi tiết. Xong cô nàng đứng dậy, mặc áo khoác đúng kiểu giật thột cử chỉ y-người máy, và bước ra khỏi nhà hàng độc lập và nhanh chóng.

Chả có gì hay ho hơn để làm, tôi theo dõi bước chân cô ả một đoạn. Bước chân lên đoạn trên của hè đường, ả thả bước đầu để thẳng, không ngó trước sau, và lạ kì làm sao cô ả có thể tìm đường rất nhanh, dù vóc người nhỏ bé. Trên thực tế, độ dài của từng bước chân như vậy là quá tải đối với tôi, và tôi nhanh chóng đã mất hút cô ả và trở lại về khu nhà. Chỉ trong khoảnh khắc “người máy bé nhỏ” (như ý nghĩa của tôi về ả) đã quá gây ấn tượng đối với tôi, nhưng tôi nhanh chóng đã quên ngay cô ả.

Khi đến cửa phòng tôi đâm sầm phải Salamano già cả. Tôi hỏi ông có muốn vào phòng tôi, và ông thông báo với tôi con chó của ông đã thực sự đi lạc mất rồi. Tôi đã tới sở cảnh sát để hỏi, nhưng con chó không có ở đó, và nhân viên đã nói lại với ông chắc con chó có thể chạy quanh quẩn đâu đó. Khi ông hỏi họ liệu ông có yêu cầu nào từ phía sở cảnh sát, họ đáp cảnh sát có nhiều điều quan trọng hơn là ghi nhận lại kỉ lục số chó lạc chạy rong khắp phố. Tôi gợi ý ông nên chọn một con chó khác, nhưng, lí do đầy đủ là, ông nhận ra ông đã trở nên quen thuộc với con chó cũ mất nổi, và chó mới không giống vậy.

Tôi ngồi lên giường của mình, đầu gối gấp, và Salamano ngồi trên chiếc ghế tựa cạnh bàn, đối mặt với tôi, hai tay ông để trên đầu gối. Ông vẫn đội chiếc mũ rách nát và đang nói lẩm bẩm phía dưới bộ râu kiến ngả vàng tỉa tót. Tôi nhận thấy ông hơi buồn tẻ, nhưng tôi không có gì để làm và chưa cảm thấy buồn ngủ. Bởi thế, để câu chuyện tiếp tục, tôi hỏi một vài câu về con chó của ông – ông nuôi nó bao lâu và cứ thế. Ông bảo với tôi ông nuôi nó ngay sau khi vợ ông mất. Ông kết hôn khá muộn. Khi còn là một chàng trai trẻ, ông muốn thử trên sàn diễn; trong thời gian quân ngũ ông thường đóng một số vai kịch với cả nhóm người và đóng khá tốt, mọi người nói vậy. Tuy nhiên, cuối cùng, ông lại có việc làm tại hãng đường sắt, và ông đã không hối tiếc về điều đó, bởi lúc này ông có một món lương hưu nhỏ. Ông và vợ ông chưa từng thắm thiết lắm, nhưng họ đã quen có nhau, và khi bà mất ông cảm thấy đơn côi. Một trong những người bạn của ông tại hãng đường sắt có chó mẹ mới sinh lũ chó con đã cho ông một con, và ông đã nuôi nó, như một người bạn. Ông đã chăm nó bằng sữa chai ban đầu. Nhưng, tuổi đời của một con chó ngắn hơn đời người, họ già đi cùng nhau, thế mới nói.

“Nó là một con chó nhặng xị”, Salamano nói, “Thỉnh thoảng chúng tôi lại có một vài cuộc uỵch nhau đáng kể, nó và tôi. Nhưng nó là một con chó tốt đấy chứ”.

Tôi đáp đó là con chó tuyệt vời, và điều đó hiển nhiên hài lòng lão già.

“Ồ, nhưng cậu mà nhìn thấy nó lúc chưa bị ốm!”, ông nói tiếp. “Nó có một bộ lông tuyệt vời; thực tế, đó là ưu điểm nhất của nó, thật đấy. Tôi đã cố chữa trị cho nó; hàng đêm sau khi nó mắt bệnh da tôi bôi cả kem giúp nó Nhưng vấn đề thực sự của nó là già nó, và chả có giải pháp nào cả”.

Đúng lúc ấy tôi ngáp, và lão già nói ông nên đi. Tôi nói ông có thể ở lại, và tôi lấy làm tiếc về những gì đã xảy ra với con chó của ông. Ông cảm ơn tôi, và lưu ý là mẹ tôi rất yêu mến con chó của ông. Ông nhắc tới bà bằng giọng “bà mẹ khốn khổ của cậu” và sợ rằng tôi sẽ phải tồi tệ thế nào trước cái chết của bà. Khi tôi nói không có gì ông nói nhanh thêm về không khí đáng xấu hổ của một số người trên phố nói những điều không hay về tôi vì tôi đã để mẹ sống ở Viện dưỡng lão. Nhưng ông, dĩ nhiên, biết rõ hơn; ông biết tôi yêu mẹ dường nào.

Tôi trả lời – tại sao, tôi vẫn còn không rõ cơ – điều này gây ngạc nhiên cho tôi nhận ra mình đã gây ấn tượng xấu thế nào. Khi tôi không thể giữ bà ở đây, hiển nhiên tôi phải làm vậy, gửi bà tới Viện. “Dù thế nào”, tôi nói thêm, “trong nhiều năm bà không nói một lời nào với tôi, và tôi có thể nhìn thấy bà như một chiếc chổi di động, không có ai để nói chuyện”.

“Đúng”, ông đáp, “và dầu sao ở viện bà có thể kết bạn”.

Ông đứng dậy, đến lúc ông phải đi ngủ rồi và nói thêm rằng cuộc sống sắp tới đây sẽ là một vấn đề đối với ông, dưới những điều kiện mới. Đây là lần đầu tiên kể từ khi tôi biết ông ông đã đưa tay ra cho tôi – có đôi chút ngại ngùng, tôi nghĩ – và tôi có thể cảm nhận được những nốt sần trên da ông. Khi ông đi tới cửa, ông quay lại và, nhếch mép cười, nói:

“Chúng ta cùng hi vọng những con chó sẽ không sủa nữa đêm nay. Tôi luôn luôn nghĩ đó là con chó của tôi lúc nghe thấy…”.

(Còn nữa)

 

 

Người lạ (tiếp theo 14)

NGƯỜI LẠ

Albert Camus

Dựa theo bản dịch tiếng Anh từ tiếng Pháp của Stuart Gilbert (N.H.T chuyển ngữ/Phần 1/Tiếp)

>> Phần trước

C_Kaplan_Looking_9780226241678_jkt_IFT

Cuốn sách đi truy tìm những gì cội rễ của “The Stranger”, từ một nhà văn Mỹ. Nguồn ảnh: Internet.

IV

Tôi có thời gian bận rộn ở văn phòng suốt cả tuần. Raymond lượn tới một lần để bảo tôi anh ta đã gửi thư đi. Tôi đi xem phim hai lần cùng Emmanuel, cậu ta thường xuyên không hiểu chuyện gì xảy ra trên màn ảnh và hỏi tôi giải thích. Hôm qua là thứ Bảy, Marie đến nhà tôi như đã hẹn. Nàng diện một chiếc váy rất xinh xắn, kẻ đỏ và trắng, đôi xăng đan bằng da, và tôi không thể nào rời mắt khỏi nàng. Có thể thấy bộ ngực xinh chắc của nàng hằn lên, gương mặt rám nắng của nàng giống như một đóa hoa màu nâu nhung. Chúng tôi bắt xe buýt và ra bãi biển tôi biết, vài dặm ngoài Algiers. Đó là một dải cát giữa hai mỏm núi đá, như một dòng kẻ chạy ngược về sau, cùng chiều với dải thủy triều. Lúc bốn giờ chiều mặt trời không nóng lắm, nhưng nước thì khá ấm, những lọn sóng nhẹ chồm sát tận bờ cát.

Marie dạy tôi một trò chơi mới. Ý tưởng là, trong khi một người bơi, miệng ngậm vào lọn sóng vừa tiến tới, khi miệng của người chơi đang đầy bọt, phải nằm lên lưng người kia và phun ngược chúng ra ngoài. Điều này tạo ra một làn khói bong bóng tràn vào không khí hoặc rơi ngược trở lại giống như đang tắm vòi hoa sen ấm lên má người kia. Nhưng ngay lập tức miệng tôi đã ngập ngụa những muối mà tôi ngậm vào; Rồi Marie đứng dậy ôm tôi trong nước, ấn miệng nàng vào miệng tôi. Lưỡi nàng lướt môi tôi, và chúng tôi để sóng vê tròn quanh chúng tôi chừng một hai phút trước khi bơi trở lại bờ.

Chúng tôi thay đồ xong, Marie nhìn tôi đăm đăm. Mắt nàng lấp lánh. Tôi hôn nàng; sau đó cả hai chúng tôi đều không nói một lời nào trong một lúc. Tôi ép chặt nàng bên mình lúc chúng tôi chơi xếp hình trên bãi biển. Cả hai chúng tôi đều vội vã bắt xe buýt, trở lại chỗ tôi ở, và nhảy phốc lên giường. Tôi để cửa sổ phòng mở, thật thoải mái cảm nhận luồng khí mát của đêm tràn xuống cơ thể cháy nắng của chúng tôi.

Marie bảo nàng được nghỉ vào sáng mai, vậy tôi đề nghị nàng nên ăn trưa cùng tôi. Nàng đồng ý, và tôi xuống phố mua thêm chút thịt. Trên đường trở lại tôi nghe thấy giọng phụ nữ trong phòng của Raymond. Salamano già cả bé nhỏ lại bắt đầu chửi rủa con chó của ông ta và lúc này hiện hữu tiếng giày khua và tiếng móng cào trên cầu thang bằng gỗ;  rồi “đồ súc vật thối tha! Thôi nào, đồ chó lai” và cả hai lại ra phố. Tôi kể cho Marie về thói quen của người đàn ông già cả đó, điều này khiến nàng cười. Nàng đang mặc một trong bộ quần áo ở nhà của tôi, và hai tay phải xắn cả lên. Khi nàng cười tôi thèm muốn nàng lần nữa. Lát sau nàng hỏi tôi có yêu nàng. Tôi bảo câu hỏi kiểu thế không có nghĩa, thật đấy nhưng thực ý tôi không phải vậy. Nàng trông buồn một tẹo, nhưng khi chúng tôi chuẩn bị xong bữa trưa nàng vui trở lại và bắt đầu cười to, và mỗi lúc nàng cười tôi chỉ muốn hôn nàng. Đúng lúc ấy tiếng cãi cọ bắt đầu vang lên bên phòng Raymond.

Lúc đầu chúng tôi nghe tiếng một người phụ nữ nói điều gì đó âm giọng rất cao; sau Raymond bập lại cô nàng, “Để tao xuống, con dở kia! Tao sẽ dạy cho mày việc đè tao!”. Rồi vài tiếng uỳnh uỳnh, tiếp tiếng hét xé tai – khiến máu đông cứng lại – và lúc đó một huyện người đã tập trung lại. Marie và tôi cũng ra ngoài xem. Người phụ nữ vẫn tiếp tục gào lên và Raymond thì đấm cô nàng. Marie bảo, điều đó chẳng khủng khiếp ư! Tôi không đáp lời. Sau đó nàng yêu cầu tôi đi và giục gọi cảnh sát, nhưng tôi bảo nàng tôi chẳng thích cảnh sát. Tuy nhiên, có kẻ xuất hiện ngay; một cư dân tầng hai, một thợ sửa ống nước, có mặt, cùng cảnh sát. Hắn đấm thùm thụp vào cửa tiếng động trong căn phòng nín lặng. Hắn gõ lần nữa, và, sau một chút, người phụ nữ ngừng khóc, và Raymond mở cửa. Anh ta ngậm hờ một điếu thuốc trên môi và nở một nụ cười yếu ớt.

“Tên gì?” Raymond nói tên mình. “Bỏ điếu thuốc ra khỏi miệng cậu khi nói chuyện với tôi”, cảnh sát cáu kỉnh. Raymond khựng lại, liếc tôi, và giữ điếu thuốc trên miệng. Viên cảnh sát vung tay lập tức và tọng cho anh ta một cú khá nặng vào má trái. Điếu thuốc rơi khỏi miệng anh ta và rơi ngay xuống sân. Raymond có một gương mặt méo xẹo, nhưng không nói câu gì. Bằng một giọng yếu ớt anh ta xin phép được nhặt lại điếu thuốc.

Viên cảnh sát đáp: “Được”, và nói thêm: “cậu đừng quên lần tới chúng tôi không bỏ qua ngớ ngẩn nào, kiểu những thằng như cậu”.

Trong khi đó cô gái tiếp tục sậm sùi và nhắc lại: “Hắn đánh tôi, tên hèn nhát. Hắn là một thằng ma cô”.

“Xin lỗi, cảnh sát này”, Raymond đế thêm, “nhưng theo trật tự, gọi một người đàn ông là ma cô cũng là một bằng cớ trước tòa đó?”.

Viên cảnh sát bảo anh ta câm cái miệng lại.

Raymond sau đó quay về phía cô gái. “Em lo lắng ư, cưng của anh. Chúng mình sẽ gặp lại sau”.

“Đủ rồi”, viên cảnh sát nhắc, và yêu cầu cô gái đi đi. Raymond được phép ở lại phòng của mình cho tới khi có trát gọi tới sở cảnh sát. “Cậu phải thấy làm xấu hổ về bản thân chứ”, viên cảnh sát nói,  “say tới mức cậu đứng còn không vững nữa kìa. Tại sau, cậu run hết toàn thân thế kia!”.

“Tôi không say”, Raymond giải thích. “Chỉ là khi tôi nhìn thấy ông đứng đó, nhìn tôi, tôi không thể giữ được bình tĩnh. Đó cũng tự nhiên mà”.

Sau đó anh ta đóng cửa, và tất cả chúng tôi giải tán. Marie và tôi ăn xong bữa trưa. Nhưng nàng chẳng thấy ngon miệng, và tôi ăn hầu hết thức ăn. Nàng rời đi, và tôi ngủ trưa.

Khoảng ba giờ chiều có tiếng gõ cửa phòng tôi và Raymond đến. Anh ta ngồi bên cạnh giường tôi chừng một hai phút không nói năng câu gì. Tôi hỏi anh ta mọi thứ khó khăn đã qua chưa. Anh ta đáp ban đầu mọi thứ trôi chảy, như lập trình; chỉ có điều cô nàng tát vào mặt anh ta mặt đỏ lựng lên, anh ta táng cho cô nàng. Và mọi chuyện xảy ra sau đó, anh ta không cần phải kể nữa, tôi có mặt ở đó.

“Ồ”, tôi nói: “Cậu dạy cho cô nàng một bài học, đúng thế, và đó là những gì cậu muốn, phải không nào?”.

Anh đồng ý và nhận ra dù cảnh sát đã làm gì, thì cũng không thay đổi được thực tế là cô nàng đã nhận được hình phạt. Với cảnh sát, anh ta biết chính xác phải ứng xử ra sao. Nhưng anh ta muốn biết tôi sẽ mong anh ta ứng xử thế nào khi bị cảnh sát tống cho một cú đánh.

Tôi nói với anh ta tôi chưa từng mong đợi bất cứ chuyện gì từng xảy ra và xảy ra thế nào, tôi không ưa cảnh sát. Raymond dường như hài lòng và ướm tôi cùng ra ngoài đi dạo với anh ta. Tôi rời khỏi giường và bắt đầu chải tóc. Rồi Raymond nói điều anh ta muốn thực sự là mong tôi làm chứng cho anh ta. Tôi bảo tôi không có ý định làm vậy; chỉ vì tôi không biết cách anh ta mong tôi nói gì.

“Hoàn toàn đơn giản”, anh ta bảo. “Cậu chỉ việc nói với họ cô gái đó đã đánh tớ ngã”.

Bởi thế tôi đồng ý làm chứng.

Chúng tôi ra ngoài cùng nhau, và Raymond đã tôi một ly rượu mạnh ở quán cà phê. Sau đó chúng tôi có chơi bi-a; một trò chơi gần gũi và tôi thua một vài điểm. Sau đấy anh ta đề nghị tôi đi chơi gái, nhưng tôi từ chối; tôi không cảm thấy thích. Khi chúng tôi thả bước chậm rãi trở về anh ta nói anh ta vui mừng thế nào khi trả tiền cho cô bồ nhí mỗi lần thỏa mãn. Anh ta khiến bản thân anh ta thực sự cởi mở đối với tôi, tôi hoàn toàn cảm nhận được mỗi bước chân của chúng tôi.

Lúc chúng tôi về gần tới nhà tôi nhìn thấy Salamano già cả đứng ở bậc thềm; ông ấy dường như rất xúc động. Tôi nhận ra con chó không đi cùng với ông. Ông ta đang dần dần giống như một kẻ sũng nước, nhìn ở mọi phương diện, và thỉnh thoảng lại tè ra khoảng tối của tòa nhà với đôi mắt đỏ kè. Rồi ông ta tự nói với bản thân và bắt đầu trừng trừng nhìn trên xuống khắp phố.

Raymond hỏi ông ta có điều gì vậy, nhưng ông già không trả lời ngay. Sau tôi nghe thấy ông ta lùng bùng trong cổ họng, “thằng khốn! Đồ chó lai thối tha!” khi tôi hỏi ông ta con chó của ông ở đâu, ông nhìn tôi đầy giận dữ và thở hắt: “Mất rồi!”. Khoảnh khắc sau đó, thật đột ngột, ông ta đã nói ra.

“Tôi dẫn nó tới Khu đất trống như thường lệ. Ở đó đang có hội chợ, và cậu biết thật khó để đi trong đám đông. Tôi dừng lại ngay một quầy bán hàng để xem đồ thọng lọng cổ chó nhãn hiệu Handcuff King. Lúc tôi quay trở lại, con chó đã chạy đâu mất rồi. Tôi muốn có chiếc thòng lọng nhỏ hơn, nhưng tôi chưa từng nghĩ con chó chết tiệt đó có thể chui lọt và chạy biến đi vậy chứ”.

Raymond khăng khăng với ông già con chó sẽ tìm được đường về nhà, và kể cho ông ta hay những câu chuyện về loài chó có thể đi xa tới hàng dặm hàng dặm và trở lại nhà mà chả có gặp vấn đề gì. Nhưng điều này dường như lại khiến ông bạn già thậm chí còn lo lắng hơn trước.

“Cậu không hiểu à, họ sẽ đi luôn với con chó; cảnh sát ấy. Chẳng có ai nhận chăm sóc nó; người nó đầy vẩy thế sẽ khiến mọi người bỏ xa”.

Tôi nói với ông ta có một bộ phận ở sở cảnh sát, nơi lũ chó hoang sẽ được giữ lại. Con chó của ông chắc chắn là đang ở đó và ông có thể đón nó về bằng việc trả một khoản tiền nhỏ. Ông ta hỏi tôi món tiền chuộc là bao nhiêu, nhưng tôi cũng không thể giúp ông ta biết được. Sau đó ông ta lại rơi vào trạng thái căm giận lần nữa.

“Vậy là tôi phải trả tiền cho giống chó chết tiệt đó ư? Sao phải sợ nhỉ! Cảnh sát có thể giết nó, đó là tất cả những gì tôi đoán”. Và ông ta tiếp tục gọi con chó với cái tên thường dùng.

Raymond phá lên cười và trở lại tòa nhà. Tôi nhìn theo anh ta lên cầu thang, và chúng tôi chia tay ở chỗ sảnh. Một hay hai phút gì đó tôi nghe tiếng bước chân của Salamano và tiếng gõ cửa phòng tôi.

Khi tôi mở cửa, ông già chựng lại ngay ở cửa vào.

“Tôi xin lỗi… tôi hy vọng là tôi không làm phiền cậu”.

Tôi mời ông vào, nhưng ông lắc đầu. Ông ta bắt đầu đá đá mũi giày, và hai bàn tay đồi mồi già cả đang run lên bần bật. Không đưa mắt nhìn tôi, ông bắt đầu nói.

“Họ không thực sự bắt con chó khỏi tôi chứ, Ngài Meursault? Chắc chắn họ sẽ không làm điều như vậy chứ. Nếu họ làm thế – tôi không biết điều gì sẽ đến với mình”.

Tôi bảo ông, nếu như tôi nghĩ, họ giữ chó hoang ở sở cảnh sát trong ba ngày, chờ chủ của những chú chó lạc tới tìm. Sau đó họ sẽ thả đúng chó về với chủ.

Ông ta chằm chằm nhìn tôi lặng yên một lúc, rồi nói “tạm biệt”. Sau đấy tôi nghe tiếng ông từ từ đi xuống căn phòng của ông. Rồi tiếng giường ông bị gãy. Cho dù bức tường ở đây có lọt những động nhỏ, nhưng tôi đoán ông ta đang sụt sùi. Dù lí do thế nào tôi không hiểu sao, tôi bắt đầu nghĩ về Mẹ. Nhưng tôi phải dậy sớm vào ngày mai; bởi thế, tôi không còn cảm thấy đói, tôi không ăn đêm, và thẳng đi ngủ.

(Hết chương IV, phần I)

(Còn nữa)

(*) Giải thưởng Nobel Văn học của  Albert Camus cho “Người lạ” năm 1957 (**). Năm đó bố tôi mới 8 tuổi, và tôi còn lâu mới chào đời. Đọc tác phẩm thường, tác phẩm dài đã khó, đọc một tác phẩm đoạt giải được cả thế giới ghi nhận càng khó hơn. Tôi may mắn được tiếp xúc với văn bản của Albert Camus khi không biết tiếng Pháp, thông qua bản dịch của dịch giả Stuart Gilbert. Không hiểu sao, càng đọc, càng như đồng cảm với dịch giả, cũng như đồng cảm với bản gốc của Albert Camus. Tôi không dám chắc mình hiểu đúng, hiểu chuẩn nhất ý của tác giả  (dịch giả). Nhưng tôi dám khẳng định, mình hiểu được cái tinh thần chậm rãi, cao cả của đời sống con người. Chỉ từ từ kể, chỉ những quan sát vô cùng tinh thế, không cần cầu kì uốn éo trong câu chữ, Camus cứ đó, dựng lên những con người, số phận. Phần này, có hai chuyện tình, một éo le, một thuận lợi. Camus viết còn rất tình. Tình đọc mà không hề đỏ mặt. (Hay lắm í ạ). Ai đó, đọc được bản chuyển ngữ này, nếu phát hiện giùm lỗi nào, mong phản hồi tới người chuyển ngữ với ạ! Chân thành cảm ơn.

(**) Ban đầu, tôi viết nhầm tác phẩm của Albert Camus đoạt giải Nobel năm 1947, sau sửa lại thành 1957. 

 

Người lạ (tiếp theo 13)

NGƯỜI LẠ

Albert Camus

Dựa theo bản dịch tiếng Anh từ tiếng Pháp của Stuart Gilbert

N.H.T chuyển ngữ

Phần 1

(Tiếp)

515019830

Albert Camus trong lễ trao giải Nobel Văn học năm 1947, bên phải là vợ ông. Nguồn ảnh: Getty Images.

Anh ta giải thích anh ta nói điều này anh ta mong lời khuyên của tôi. Đèn đang bốc khói, và anh ta đã dừng chạy đi chạy lại như đèn cù, vặn nhỏ bấc đèn. Tôi chỉ nghe, không nói gì. Tôi đã nốc cả chai vang cho riêng mình và đầu tôi đang ong ong lên. Tôi đã bỏ không hút thuốc của mình tôi dùng loại của Raymond. Vài chiếc xe đò muộn vừa chạy qua, và những âm thanh ồn ã cuối cùng trên phố đã xa dần. Raymond tiếp tục nói. Điều làm anh ta phiền lòng là anh ta có “một kiểu yêu thái quá cô ta” như cách anh ta đã gọi. Nhưng anh ta đã hoàn toàn quyết định dạy cho cô ta một bài học.

Ý tưởng đầu tiên là, anh ta nói, đưa cô ta tới một khách sạn, rồi gọi cảnh sát đặc biệt. Anh ta đã thuyết phục họ khiến cô ta giống như “một ả điếm thông thường” tới khách sạn hành nghề, và điều này đã khiến cô ta phát rồ. Rồi anh ta kiếm một vài người bạn trong thế giới ngầm của mình, những cậu bạn giữ gái để tùy ý sử dụng, nhưng họ đã không hồi đáp gì. Dầu vậy, lúc anh ta chỉ ra, kiểu như mọi thứ đang ở kia ngoài phố; điều tốt đẹp là gì đây nếu như bạn không biết cách ứng xử với cô bạn gái khiến bạn bực mình? Khi anh ta nói với những người bạn, họ mách nước anh ta nên “gán danh” cho cô nàng. Nhưng đó đâu phải điều anh ta muốn đâu. Cần nhiều suy nghĩ lắm đây…. Nhưng, đầu tiên, anh ta muốn hỏi ý kiến tôi. Trước khi anh ta muốn hỏi, dầu sao, anh ta muốn tôi có ý kiến về câu chuyện anh ta vừa kể, thật tổng thể.

Tôi đáp tôi chả có ý kiến gì, nhưng tôi thấy câu chuyện thú vị.

Tôi có nghĩ cô nàng thực sự đã vấy bẩn lên anh ta chăng?

Tôi phải thú nhận dường như có vẻ giống vậy. Rồi anh ta hỏi tôi nếu tôi không nghĩ tới việc nên phạt cô nàng và tôi xử trí thế nào nếu như tôi ở trong tình trạng của anh ta. Tôi bảo anh ta chẳng có một ai chắc chắn hành động thế nào trong trường hợp như thế, nhưng tôi hoàn toàn hiểu anh ta muốn cô nàng phải chịu tổn thương.

Tôi nốc thêm chút rượu vang, trong khi Raymond đốt thêm điếu khác và bắt đầu giải thích anh ta sẽ làm gì. Anh ta muốn viết cho cô nàng một bức thư, “một lá thứ thực sự quan trọng để bóc mẽ cô nàng”, và cùng lúc khiến cô nàng phải hối hận về những điều đã làm. Để rồi, khi cô nàng trở lại, anh ta sẽ lên giường với cô nàng và, khi cô nàng đã “chỉ còn là một mụ đàn bà đích thực”, anh ta nhổ vào mặt cô nàng và ném cô nàng ra khỏi phòng. Tôi đồng ý đó không phải là một kế hoạch tồi; cần phải phạt cô nàng, đúng vậy.

Nhưng, Raymond bảo tôi, anh ta không thể cảm nhận đủ để viết kiểu thư cần thiết, và tôi cần phải giúp đỡ anh ta. Khi tôi chẳng nói gì, anh ta hỏi tôi liệu tôi làm vậy là không đúng, và tôi đáp: “không”, và tôi đồng ý tắp lự.

Anh ta uống cạn một cốc rượu vang và đứng dậy. Anh ta dẹp những chiếc đĩa sang bên cạnh và còn một chút bánh pudding thừa, dồn cả trên bàn. Sau khi cẩn trọng lau bằng chiếc khăn ướt, anh ta lấy một tấm khăn vuông bằng giấy từ ngăn kéo bên cạnh bàn; sau tiếp; một chiếc phong bì, một hộp đựng bút bằng gỗ màu đỏ, và lọ vuông đựng mực hồng. Khoảnh khắc anh ta nhắc tới tên của cô gái tôi nhận ra cô nàng là một người Moor. (Nhóm dân số trong lịch sử gồm người Berber, người châu Phi da đen, người A rập có nguồn gốc Bắc  Phi. Những nhóm người này đã chinh phục và xâm chiếm bán đảo Iberia trong gần 800 năm).

>> Phần trước

Tôi viết thư. Chẳng tốn mấy thì giờ, tôi muốn làm Raymond hài lòng, và tôi chẳng có lí do gì mà không khiến anh ta hài lòng cả. Sau đó tôi đọc to những gì tôi viết. Đốt một điếu thuốc, anh ta lắng nghe, gật đầu lia lịa. “Đọc lại đi, xin cậu đấy”, anh ta nài. Dường như anh ta vui vẻ. “Phải thế chứ”, anh ta gật gù. “Tớ có thể nói cậu là tay có đầu óc, cậu bé già ạ, và cậu biết phải làm gì”.

Ban đầu tôi chưa nhận ra cách anh ta nói “cậu bé già”. Tôi hiểu khi anh ta đập vào vai tôi và bảo: “Giờ chúng ta là bạn nhé, phải không nào?”. Tôi im lặng và anh ta nói lại lần nữa. Tôi không quan tâm cách này hay cách khác, nhưng dường như anh ta đã khăng khăng điều đó, tôi gật đầu và nói, “đồng ý”.

Anh ta nhét bức thư vào trong phong bì và chúng tôi uống nốt số rượu vang. Cả hai chúng tôi hút thuốc thêm chút nữa, không ai nói với ai câu gì. Phố xá lặng yên yên lặng, trừ thoảng hoặc có tiếng xe chạy qua. Cuối cùng, tôi nhận thấy đêm đã quá muộn, và Raymond công nhận. “Thời gian tối nay sao đi nhanh thế”, anh ta nói, và đúng vậy. Tôi muốn đi ngủ, chỉ có vậy mới cố gắng để nhấc người dậy. Tôi trông phải mệt mỏi lắm, và Raymond bảo tôi: “Cậu phải không để mọi thứ khiến cậu xuống sức vậy chứ”. Lúc đầu tôi cũng chưa hiểu ý anh ta thế nào. Sau đó anh ta giải thích anh ta mới biết mẹ tôi mất; dầu sao; anh ta bảo, chuyện không xảy đến lúc này sẽ xảy ra lúc khác. Tôi ghi nhận, và tôi cũng đồng ý với anh ta vậy.

Khi tôi đứng dậy, Raymond bắt cả hai tay rất ấm nồng, điều đó rõ ràng là đàn ông luôn luôn hiểu nhau. Sau khi cửa đóng phía sau lưng tôi, tôi vẫn cố nán lại chút xíu. Toàn bộ tòa nhà lặng yên giống như trong nhà mồ, lạnh lẽo, mùi của tối tăm tràn khắp những bậc cầu thang. Tôi không nghe thấy gì ngoài tiếng thì thụp trong tai mình, và tôi cứ đứng đó thêm một lát, để nghe nó. Rồi tiếng chó gừ lên trong căn phòng của Salamano già cả, và ngôi nhà như-đang-ngủ đó tiếng động tang tóc chầm chậm tăng dần, giống như một bông hoa đang vươn lên trong câm lặng và bóng tối.

(Hết chương III, phần 1)

(Còn nữa)